Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

Chuyện cổ Hàn Quốc: CHIẾC GƯƠNG SOI MẶT

Chuyện cổ Hàn Quốc
CHIẾC GƯƠNG SOI MẶT

Ở một làng quê nọ có anh học trò muốn làm quan. Một hôm anh từ giã gia đình để lên kinh đô dự thi. Ở kinh đô, khi đi qua một cửa hàng, anh trông thấy một vật nhỏ phản chiếu ánh sáng. Anh nhìn vào bề mặt phẳng láng và ngạc nhiên thấy mặt mình hiện ra rõ ràng trong đó. Trước đây, anh đã từng thấy mặt mình trong chậu rửa mặt nhưng không được rõ như vậy. Anh liền mua cái đó và mang về làng.

Ở nhà, anh không cho bất cứ ai xem, mà bí mật bỏ trong ngăn kéo, lâu lâu lại mở ra nhìn và mỉm cười. Vợ anh thấy cử chỉ kỳ cục của anh nên tò mò muốn khám phá. Đợi anh đi vắng, chị ta mở ngăn kéo và trông thấy một vật có một mặt trơn láng, nhìn vào thì thấy một phụ nữ trẻ mở to mắt ngạc nhiên nhìn mình. Chị liền kêu mẹ chồng: Mẹ ơi, chồng con mang một con vợ bé trẻ đẹp từ Seoul về đây. Bà mẹ chồng nghe con dâu gọi liền  đến cầm cái vật đó lên xem và nói: Tao có thấy con gái trẻ đẹp nào đâu, đó là bà già ở làng bên qua thăm tao.

Nghe hai mẹ con ồn ào, ông cha chồng đến hỏi việc gì. Cầm cái vật lạ lên xem, ông liền mang bỏ lên ban thờ, vừa khóc vừa lạy: Cha ơi, có chuyện gì không hay mà cha về đây. Con có làm điều gì sai thì xin cha cho biết để con sửa chửa.


Con dâu lấy làm lạ, không hiểu tại sao ông bố chồng mình lại cho đó là cha mình và vái lạy kì cục vậy. Chính mắt chị đã thấy con đàn bà trẻ đẹp trong đó mà. Chị lấy lại vật kia và nhìn. Đúng  rồi, nó lại hiện ra đây. Chị chưởi mắng nó là đồ ma quỷ biến hình, nó cũng bắt chửi lại chị, trợn mắt, nghiến răng như chị. Chị làm gì, nó làm nấy. Quá tức giận, chị liền ném vật lạ xuống đất và nó vở tan tành.

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2018

CHUYỆN PHIẾM VỀ BÀ ĐẦM, ĐÍT VỊT, ĐẦU RỒNG

CHUYỆN PHIẾM VỀ BÀ ĐẦM, ĐÍT VỊT, ĐẦU RỒNG
  
Bà Đầm không xuất hiện nơi công chúng?

Tình cờ tôi đoc trên mạng bài ĐÍT VỊT, ĐẦU RỒNG của nhà văn Hoàng Hải Thủy và ngạc nhiên thấy ông này cho rằng các quan Tây không bao giờ cho các bà vợ đi cùng nên không có cảnh “Bà Đầm ngoi đít vịt” trong thơ Tú Xương và cảnh ông Phủ cõng bà Đầm trong thơ Huyện Nẻ Nguyễn Thiện Kế.


Nhà văn Hoàng Hải Thủy đưa một tấm hình , trong đó, quan Tây đứng chung với quan ta mà không thấy bà Đầm nào. Dưới ảnh có ghi: “Ảnh ghi khỏang năm 1910 – 1915”, nếu vậy, trong thời gian đó có 2 kỳ thi Hương, và khả năng kỳ thi kia có vợ Tây đến dự thì sao?

Hoàng Hải Thủy viết:

“Nhưng không có bà Đầm trong những cuộc lễ của chính quyền. Bà vợ công chức Pháp không bao giờ đi theo chồng ra nơi công chúng. Vì vậy không có chuyện những ông Cử Nhân Việt phải quì lậy bà Đầm.

Không có cảnh:
Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông Cử ngỏng đầu rồng.

…Những bà Đầm vợ các ông Công Sứ Pháp lại càng không xuất hiện bên ông chồng. Do vậy không thể có chuyện Ông Phủ Vĩnh cõng Bà Đầm như được tả trong bài thơ:
Thằng cha Phủ Vĩnh thế mà thâm
Nịnh Bố Cu Tây, cõng Mẹ Đầm.
Đôi vú ấp vai, đầu nghển nghển
Hai tay ôm đít, mặt hầm hầm.
Phen này cứng cựa nhờ ơn tổ
Lúc ấy sa chân chết bỏ bầm.
Chẳng thiết mề-đay cùng tưởng lục
Đưa tay lên mũi, miệng cười thầm.”
(Hết phần trích từ bài của HHT.)

Trong bài VỊNH KHOA THI HƯƠNG, Trần Kế Xương đã tả rõ ràng:
Lọng cắm rợp trời, quan sứ đến;
Váy lê phết đất, mụ đầm ra

Theo như sách sử cho biết, kì thi năm Đinh Dậu 1897 có vợ chồng Toàn quyền Paul Doumer và vợ chồng tôn công sứ Nam Định Le Normand đến dự. Như vậy ảnh chụp kỳ thi sau kỳ có bà Đầm đến dự từ 17 đến 22 năm.

Rất tiếc nhà văn Hoàng Hải Thủy không đọc hết tài liệu mà chỉ căn cứ vào một tấm ảnh để kết luận thiếu chính xác.

Một thiếu sót khác của Hoàng Hải Thủy là ông không biết tác giả bài Vịnh Tri Phủ Vĩnh Tường là ai.

Đó là ông Nguyễn Thiện Kế, một nhà thơ trào phúng yêu nước, mà nhiều con đường đã mang tên ông.
Nguyễn Thiện Kế (1849-1937) tên tự là Trung Khả, hiệu Đường Vân hay Nễ Giang, còn được gọi là Huyện Nẻ hay Huyện Móm, là một chỉ huy của khởi nghĩa Bãi Sậy trong phong trào Cần Vương và cũng là em ruột của Nguyễn Thiện Thuật, quê ở làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ngoài ra, ông còn làm thơ trào phúng và cũng là anh rể của thi sĩ Tản Đà.

Ông nổi tiếng về thơ phúng thế. Thơ ông phần nhiều nhắm vào đám qua trường tham ô, vào đám người có địa vị cao trong xã hội mà không biết trọng phẩm cách. Ông kịch liệt đả kích những thói hư tật xấu, nhiều khi đi đến chỗ thóa mạ nặng nề mất phong độ của làng tao nhã. Cho nên thơ ông hầu hết thuộc về loại châm phúng. Có thể coi là thơ trào phúng. (Theo thivien.net.)

Một số tác phẩm của ông có thể tìm thấy trên thivien.net:
Đánh tài bàn, Khóc vợ bé, Tổng đốc Hải Dương, Tri phủ Vĩnh Tường, Tuần phủ Thái Bình, Vịnh Kiều.

Tóm lại, bà Đầm trong thơ của Tú Xương và Huyện Nẻ là nhân vật có thực, chứ không phải bịa.




Ông Tây, bà Đầm cùng xuất hiện nơi công chúng, sao bảo rằng không?

Thưa Thầy, em nghĩ khác được không?

Tôi không đủ khả năng để bình thơ Tú Xương và nếu có bình thì là chuyện vô ích bởi bất cứ ai học qua chương trình phổ thông đều đã được thầy cô giảng kỹ rồi.

Tôi chỉ nói tào lao cho vui mà thôi.

Trước hết xin tóm sơ về những điều đã học được.

Thường thì thầy cô giảng về thơ Tú Xương như thế này:
-Hiện thực trong thơ Tú Xương là một bức tranh xám xịt, dường như chỉ có rác rưởi, đau buồn của xã hội thực dân - nửa phong kiến.
-Cảm hứng trong thơ ông là nỗi buồn đau trước vận nước vận dân.
-Với giọng văn châm biếm sâu cay, thơ văn của ông đã đả kích bọn thực dân phong kiến, bọn quan lại làm tay sai cho giặc, bọn bán rẻ lương tâm chạy theo tiền bạc, bọn rởm đời lố lăng trong buổi giao thời.

Và bài Giễu Người Thi Đỗ cũng trong quỹ đạo đó.

GIỄU NGƯỜI THI ĐỖ
Trần Kế Xương

Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sướng không!
Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân, ông cử ngẩng đầu rồng.
Câu cuối cùng, có bản là:
Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng.

Sau đây là ý của tôi.

1-Theo nhà Hán học Linh Đàn, “các kỳ thi hương đỗ đạt mỗi trường cỡ chừng 10 đến 20 thí sinh”, vậy trong lễ xướng danh không chỉ có một tân khoa đến dự, thế mà Tú Xương dùng đại từ “nó” trong câu thứ hai e rằng không đúng ngữ pháp. Phải là “chúng” mới đúng.

2-Tại sao không phải đít ngổng mà là đít vịt? Đít của bà Đầm có lẽ mập lắm khiến ông Tú phát thèm và vốn là dân nhậu nên liên tưởng đến món phao câu vịt béo ngậy.

3-Thầy cô thường giảng “đầu rồng” là ám chỉ nhà vua, nhưng theo tôi, Tú Xương là người cố thi đỗ để ra làm quan, tất nhiên phải thành thạo về kinh nghĩa, chiếu biểu, thơ phú, văn sách, thì không thể nào có ý tưởng “bài phong, phản đế” trong đầu được. Theo tôi, “rồng” ở đây liên quan đến sự tích cá hóa rồng, diễn tả ước mơ có cuộc sống đầy đủ, ấm no, hạnh phúc, có công danh sự nghiệp sau khi đã dồn hết tâm trí và sức lực để vượt qua khó khăn. “Rồng” theo nghĩa này rất thích hợp để chỉ những người vừa đỗ đạt, chuẩn bị ra làm quan sau một quá trình học tập và rèn luyên khó khăn.

4. Thầy cô giảng rằng các tân khoa phải cúi lạy ông Tổng đốc và quan Pháp nhưng tại sao Tú Xương không dùng từ “cúi” mà dùng từ “ngẩng / ngỏng”. mặc dù “ngẩng/ngỏng” và “ngoi” là động tác hướng về phia trên như nhau, do đó không đối nhau? Hành động “cúi” diễn tả sự chịu đựng nhục nhã chứ “ngẩng/ngổng” là sự vươn lên , không biểu lộ cái ý đó.

Theo tôi, mặc dù bà Đầm ăn mặc kín đáo (váy lê phết đất) nhưng thân hình phong nhũ phì đồn của bà đã làm ông Tú mê mẫn và rạo rực trong người đến nổi cái báu vật của ông không chịu nằm yên mà đòi ngỏng lên. Chính ông Tú, vốn là người ham mê gái gú, thoải mái đứng xem mới ngắm kỹ bà Đầm chứ các tân khoa đang làm lễ có lẽ không có thì giờ để làm việc ấy.

Từ “ngỏng” có lẽ hợp với ngôn ngữ của ông hơn là từ “ngẩng” vì Tú Xương không ngại nói tục. Ví dụ:
         
“Ðù cha, đù mẹ đứa riêng ai …”(Đùa Ông Hàn)
        
“Chiều khách quá hơn nhà thổ ế” (Gái Buôn)
        
“Mình tựa vào cây, cây chó ỉa” (Gái Góa Nhà Giàu)    
Dỉ nhiên, thầy cô không thể giảng “ngỏng đầu rồng” như tối viết mà chụp cho ông ta nhiều cái mũ đẹp hơn.


Có nên gọi bà Đầm là “đứa”, “nó”?

Trong bài “Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó” của tác giả Dương Kim Thoa đăng trên www.baodanang.vn, 01 thg 7, 2013 có đoạn như sau:             

“Trước hết, ông tạo nên được những tình huống, tình thế đặc biệt. Chẳng hạn trong câu “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt - Dưới dân ông Cử ngỏng đầu rồng”. Bà đầm vợ ông quan Tây đến dự lễ xướng danh thì ngồi trên ghế. Các ông quan thời đó ở dưới sân. Khi đọc xướng danh, phải lạy thiên tử. Khi người đỗ - tiêu biểu cho đạo học - lại ở dưới thấp và cúi lạy bà đầm - tiêu biểu cho bọn thống trị, ngồi ở chỗ cao thì Tú Xương lại chỉ lia cái ống kính của mình quay cận cảnh. Cái đứa ngồi ông chỉ quan tâm tới cái mông của nó. Còn người quỳ ở dưới, ông chỉ quan tâm tới cái đầu. Vậy tình thế ở đây là anh thống trị - anh bị trị, anh vô học - anh có học, cái đít vịt - cái đầu rồng, đó là cái đáng gây cười. Còn thái độ được biểu lộ qua chữ “ngỏng”, đó là chữ rất nghịch ngợm của Tú Xương. “Bà ngoi - ông ngỏng”, hình ảnh đó khiến sân khấu của lễ xướng danh thành ra như trò hề không ra đầu đuôi gì cả.”

Tôi xin có mấy nhận xét về một vài chi tiết trong  đoạn văn trên:

-Tác giả cho rằng: “Các ông quan thời đó ở dưới sân” là không đúng. Ở dưới sân là những ông vừa đổ cữ nhân đến dự lễ xướng danh, chưa được bổ chức quan nào hết.

-Tác giả viết: “khi đọc xướng danh phải lạy tiên từ” là không đúng. Cấp cao nhất đến dự lễ xướng danh là quan Tổng đốc,

-Tác giả viết: “Bà Đầm – tiêu biểu cho bọn thống trị” là không chính xác. Vợ các quan Tây chỉ đi theo chồng chứ không đảm nhận chức quan nào cả nên không thể đại diện cho chính phủ bảo hộ.  Tương tự như vậy: sau 1975, các sĩ quan VNCH bị tập trung cãi tạo còn  những bà vợ vẫn ở nhà bởi họ không có tội gì. vậy quan Tây mới có tội chứ bà Đầm được miễn tố.

Khi một ông Tổng thống nước ngoài đến thăm Việt Nam, ta tổ chức tiếp đón Tống thống chứ không phải  vợ  của ông ta bởi chỉ có Tống thống mới đươc đi trên thảm đỏ. Bà Đầm có mặt trong buổi lễ nhưng chỉ là người đi theo, không đại diện cho ai cả.  Các ông cử thực ra chỉ cúi lạy quan Tổng đóc và quan Tây chứ không phải cúi lạy bà Đầm.

-Tác giả viết: “Cái đứa ngồi ông chỉ quan tâm tới cái mông của nó.” Tú Xương sống dưới thời Pháp thuôc vẫn gọi vợ các quan Tây là bà Đầm, còn tác giả sống vào thời hiện đại lại dùng từ “đứa” và “nó”  trong một bài phê bình văn học có thể dùng trong nhà trường. Khi viết truyện có lời thoại, hoặc trong câu chuyện hằng ngày (informal), ta có thể dùng “thằng Pháp”, “thằng Tây”, “thằng Mỹ”, “chúng nó” v.v. nhưng trong sách lịch sử, trong các bài báo hay luận văn nghiêm túc (formal), ta nên dùng “người Pháp”, “người Tây phương”, “người Mỹ” , “họ” v.v. Riêng đối với bà vợ của Toàn quyền Doumer thì lại càng không nên dùng “đứa”, “nó” để gọi bà này vì về sau ông chồng bà trở thành Tổng thống Pháp thì bà ấy cũng trở thành Đệ nhất phu nhân, con cháu của họ có thể đang giữ chức vụ quan trọng trong chính phủ hay quốc hội Pháp, mà ta gọi bà cố, bà nội của họ là “đứa”, “nó” thì e rằng không hay về mặt ngoại giao.

-Tác giả viết: “Vậy tình thế ở đây là anh thống trị - anh bị trị, anh vô học - anh có học, cái đít vịt - cái đầu rồng, đó là cái đáng gây cười.” Tác giả không phân tích sâu nên người đọc không hiểu yếu tố gây cười là chỗ nào. “Anh vô học” là anh nào? Ở một buổi xướng danh của một hội đồng thi thì làm gì có người vô học tham dự. Chỉ có bà Đầm được nêu nhưng chi tiết nào cho phép tác giả gọi bà Đầm là người vô hoc? Không lẽ chỉ vì cái mông to mà trở thành người vô học?

***

Khi phê bình một bài văn hay bài thơ, người phê bình nên nhập vai tác giả của bài văn, bài thơ đó. Hãy tưởng tượng một người vừa thi hỏng lại có mặt trong buổi xướng danh người thi đổ sẽ phẩn uất, thất vọng, bực tức ra làm sao?

 Một người đàn ông được vợ nuôi để học hành nhưng không tập trung vào việc học, lại ăn chơi trác táng, mang tiền của vợ để nhậu nhẹt và gái gú thì đó là một người hư đốn, vô lương tâm, vô trách nhiệm đối với gia đình. Một người như vậy cho dù có chút văn tài nhưng có đáng tin cậy không?

Theo tôi, nếu có giới thiệu thơ Trần Kế Xương trong chương trình phổ thông thì cũng chỉ giới hạn ít thôi bởi tư cách của nhà thơ này không phải là “tấm gương sáng để học sinh noi theo”.



Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018

LẨN THẨN... TA BÀ

Lẩn Thẩn… Ta Bà

Vợ bảo hớt tóc, mình không hớt
Hớt chi cho tốn, lại ra dài

Bạn bảo nhuộm tóc cho trẻ lại
Nhuộm chi rồi thuốc cũng sẽ phai

Nha sĩ bảo lấy cao  cho sạch
Lấy rồi cao cũng bám lại thôi

Trò bảo thầy nên mua xe mới
Xe thầy ngày xưa đã mới rồi

Bạn rủ cà phê cho bới tẻ
Đến trưa rồi cũng phải về nhà

Thầy bảo tụng kinh để giải thoát
Mà mối tình xưa cứ đậm đà.

NKP




Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

NHU CẦU VÀ HAM MUỐN - Truyện cổ tích song ngữ


NHU CẦU VÀ HAM MUỐN
Truyện cổ tích.
Nguyễn Khắc Phước dịch.

Ngày xưa có một vị Vua, mặc dù hưởng cuộc sống giàu sang, nhưng lại cảm thấy không hạnh phúc và cũng không hài lòng. Một ngày nọ, nhà Vua tình cờ thấy một nô tài vừa làm việc vừa hát vui vẻ. Điều này làm nhà Vua chú ý và tự hỏi tại sao ông ta, Nhà cai trị tối cao của vương quốc, lại cảm thấy không hạnh phúc và buồn chán, trong khi một đầy tớ thấp hèn lại có nhiều niềm vui. Vua hỏi người đầy tớ: "Tại sao ngươi lại hạnh phúc như vậy?"

Nô tài trả lời: "Tâu Hoàng thượng, tiểu nhân chỉ là một đầy tớ, và gia đình tiểu nhân không cần quá nhiều, chỉ cần một cái mái nhà che mưa nắng và thức ăn để no bụng." Nhà vua không hài lòng với câu trả lời đó . Sau đó trong ngày, ông đã tìm kiếm lời khuyên của quan Đại học sĩ, cố vấn đáng tin cậy nhất của mình. Sau khi nghe những tai ương của vua và câu chuyện của người đầy tớ, cố vấn nói, "Tâu Hoàng thượng, hạ thần tin rằng người hầu chưa phải là thành viên của Câu lạc bộ 99".

"Câu lạc bộ 99? Chính xác là thế nào? "Vua hỏi. Quan cố vấn trả lời: " Tâu Hoàng thượng, để biết thật sự  Câu lạc bộ 99 là gì, hãy bỏ 99 đồng vàng vào trong một túi xách và để nó ở ngưỡng cửa nhà người hầu." Vua liền ra lệnh làm như vậy. Khi nhìn thấy chiếc túi, người đầy tớ liền mang vào nhà mình. Khi mở túi ra, anh ta vui mừng hét to. Có rất nhiều đồng tiền vàng! Anh ta bắt đầu đếm. Sau vài lần đếm, cuối cùng anh ta biết chính xác rằng có 99 đồng xu. Anh tự hỏi, "Chuyện gì đã xảy ra với đồng tiền vàng cuối cùng? Chắc chắn, không ai để lại 99 đồng!"

Anh nhìn khắp nơi nhưng không tìm thấy đồng xu thứ 100 đó. Cuối cùng, kiệt sức, anh quyết định rằng anh sẽ phải làm việc nhiều hơn để kiếm được đồng xu vàng và hoàn thành bộ sưu tập của mình. Từ ngày đó, đời sống của người đầy tớ đã thay đổi. Anh ta đã làm việc quá sức, thường xuyên cáu bẳn, và trách mắng gia đình vì đã không giúp anh ta kiếm được đồng tiền vàng thứ 100. Anh ngừng hát khi làm việc. Chứng kiến ​​quá trình chuyển đổi mạnh mẽ này, nhà vua đang bối rối. Ngài tìm sự trợ giúp của quan Đại học sĩ, vị quan đó cho biết, "Tâu Hoàng thượng, người hầu bây giờ chính thức gia nhập Câu lạc bộ 99".

Vị quan tiếp tục: "Câu lạc bộ 99 là một cái tên dành cho những người có đủ hạnh phúc nhưng không bao giờ hài lòng, bởi vì họ luôn khao khát và phấn đấu để có thêm một chút nữa, tự bảo mình: Hãy để tôi có cái cuối cùng ấy và sau đó tôi sẽ có cuộc sống hạnh phúc."

Bài học:
Chúng ta có thể sống hạnh phúc, thậm chí với rất ít của cải, nhưng lúc chúng ta được một cái gì đó lớn hơn và tốt hơn, chúng ta lại muốn nhiều hơn! Chúng ta mất ngủ, mất hạnh phúc, và làm tổn thương những người xung quanh. Tất cả những điều đó như một cái giá phải trả cho nhu cầu và ham muốn ngày càng tăng của chúng ta. Chúng ta phải học để duy trì sự cân bằng nhu cầu và ham muốn của chúng ta để tận hưởng một cuộc sống hạnh phúc với những gì chúng ta đã có.

***

The Needs and Desires

Once upon a time, there lived a King who, despite his luxurious lifestyle, was neither happy nor content.  One day, the King came upon a servant who was singing happily while he worked. This fascinated the King, why was he, the Supreme Ruler of the Land, unhappy and gloomy, while a lowly servant had so much joy.  The King asked the servant, “Why are you so happy?”
The man replied, “Your Majesty, I am nothing but a servant, but my family and I don’t need too much, just a roof over our heads and warm food to fill our tummies.”  The king was not satisfied with that reply.  Later in the day, he sought the advice of his most trusted advisor.  After hearing the King’s woes and the servant’s story, the advisor said, “Your Majesty, I believe that the servant has not been made part of The 99 Club.”
“The 99 Club? And what exactly is that?” the King inquired.  The advisor replied, “Your Majesty, to truly know what The 99 Club is, place 99 Gold coins in a bag and leave it at this servant’s doorstep.”  So the King ordered to do it.  When the servant saw the bag, he took it into his house.  When he opened the bag, he let out a great shout of joy, So many gold coins!  He began to count them.  After several counts, he was at last convinced that there were 99 coins.  He wondered, “What could’ve happened to that last gold coin? Surely, no one would leave 99 coins!”
He looked everywhere he could, but that final coin was elusive.  Finally, exhausted, he decided that he was going to have to work harder than ever to earn that gold coin and complete his collection.  From that day, the servant’s life was changed. He was overworked, horribly grumpy, and castigated his family for not helping him make that 100th gold coin.  He stopped singing while he worked.  Witnessing this drastic transformation, the King was puzzled.  When he sought his advisor’s help, the advisor said, “Your Majesty, the servant has now officially joined The 99 Club.”
He continued, “The 99 Club is a name given to those people who have enough to be happy but are never content, because they’re always yearning and striving for that extra 1 telling to themselves, “Let me get that one final thing and then I will be happy for life.”
Moral:  We can be happy, even with very little in our lives, but the minute we’re given something bigger and better, we want even more! We lose our sleep, our happiness, we hurt the people around us, all these as a price for our growing needs and desires.  We must learn to maintain a balance of our need and desires to enjoy a happy life with what we already have. 

(Nguồn: https://www.moralstories.org/the-needs-and-desires/)


Thứ Năm, 18 tháng 1, 2018

VẪN CÒN

VẪN CÒN

Bốn mươi năm sông vẫn trong dòng chảy
Cũng như em vẫn mười tám đôi mươi
Vẫn cô gái quê ngoan hiền xóm dưới
Vẫn đơn sơ chất phác yêu đời

Ta vẫn nhớ trên đường làng gió lộng
Em đi về áo dài trắng tung bay
Ta trong đình mình trần ôn bài vở
Ngẩn ngơ nhìn mà em đâu có hay

Có những chiều bến sông ta ngồi đợi
Cô gái làng ra gánh nước, rửa rau
Ta cứ sợ em trượt chân ướt áo
Sợ lưng em còng, sợ vai em đau

Chiến tranh đến khiến nhà tan cửa nát
Em bỏ làng đi chẳng biết về đâu
Ta lang thang chốn thị thành xa lạ
Mong tình cờ may được gặp nhau

Bốn mươi năm bên bến xưa sông cũ
Chẳng hẹn hò ta lại cùng về
Ôi mắt em dịu dàng tình tứ
Nụ cười hiền, giọng nói vẫn chân quê

"Em biết anh ngồi học bài trong đó
Và trộm nhìn khiến em vấp mấy lần
Em biết anh thường ra sông hóng mát
Nên cố tình ngồi lại bến rửa chân."

Nước lũ xoáy làm bờ sông sụt lỡ
Nhưng tình yêu hình như được đắp bồi
Không trăm năm thì vài năm cũng vậy
Cứ nồng nàn như mười tám đôi mươi.


NKP

Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2018

CHỜ


CHỜ

Có lúc
Tôi thấy mình là tàu lửa
Cứ lao về phía trước
Đêm đen
Nơi có chiếc cầu gảy
Đang chờ
Có lúc
Tôi thấy mình
Là chiếc phi cơ
Đang bay trên bầu trời u ám
Và trong ghế hành khách
Có một kẻ khủng bố
Mang bom ngồi chờ
Có lúc
Tôi thấy mình là tảng sao băng
Đang rơi về hướng trái đất
Bùng cháy
Nổ tung

Không chờ

Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

MIỀN GÁI THƠM

Cảm ơn anh Võ Văn Hoa đã sưu tầm:

Thơ vui:
MIỀN GÁI THƠM

Về quê thấy gái tỉnh nhà
Đoan trang thùy mị nết na ngoan hiền
O nào cũng đẹp như tiên
Cũng xinh như mộng, bắt nghiền, bắt ham
Gặp o cụt đọt lỡ làng
Vừa sà vô tán, o nàng cười duyên
Xa quê mấy chục năm liền
Mới hay Quảng Trị là miền gái thơm!


Tháng 9/2010,
NKP

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

LẠI CHUYỆN CÂY MƯNG



LẠI CHUYỆN CÂY MƯNG
Nguyễn Khắc Phước

Hơn chục năm trước, anh Phan Luận, một cán bộ kinh doanh thuộc Công ty  CP Cao su Đà Nẵng – DRC, thuê một chiếc tải nhỏ về quê An Đôn bên bờ sông Thạch Hãn mua gần chục cây Mưng mang vào tặng đồng nghiệp và bạn bè ở Đà Nẵng. Mặc dù tôi không biết anh Luận tặng bạn loại Mưng gì, nhưng bắt chước anh, tôi cũng về quê Lương Điền bên sông Ô Lâu bứng một cây Mưng nhỏ mang về trồng trên lề đường trước nhà.
Thấy tôi đang đào gốc cây, một bác bà con làng hỏi:
-Chú đào cây Mưng nầy mần chi rứa?
Nghe tôi nói ý định của mình, bác khuyên tôi:
-Chú nên tìm loại cây lá nhỏ mới có nhiều bông chớ thứ ni ít bông lắm.
Tôi giải thích với bác là tôi không rành cây kiểng, chỉ muốn về quê mang một cây gì đó vào trồng trước nhà cho có mùi vị quê hương, giống như người ta mang một nắm đất thiêng từ Jesusalem hay hay Bồ-đề-đạo-tràng về để thờ và kỷ niệm một chuyến hành hương.
Khoàng 5 năm sau, cây Mưng của tôi, được dân phố gọi là Lộc Vừng, đã lớn quá đầu người nhưng chẳng cho hoa nào, trong khi những cây Lộc Vừng của những nhà hàng xóm cao bằng nó thì đã cho bông xum xuê. Tìm hiểu, tôi mới biết bác người làng nói đúng. Chỉ cần đi quanh Đà Nẵng, cũng tìm thấy được ba loại Lộc Vừng. Loại lá nhỏ, loại lá vừa và loại lá lớn. Lá càng lớn thì bông càng ít nhưng càng to, ngược lại, lá càng nhỏ thì bông càng nhiều. Có người nói loại lá nhỏ mới chính là Lộc Vừng, còn các loại khác thì không phải, bởi hạt vừng (mè) mang hình ảnh nỏ bé. Người ta cầu mong được lộc nhỏ mà nhiều. Cây của tôi thuộc loại lá vừa nên sẽ cho bông ít. Không sao, bởi nó là cây Mưng chớ không phải Lộc Vừng và mục đích tôi trồng không phải để cầu lộc. Nếu đặt tên ghép với “lộc” thì nó là “Lộc đậu đỏ”, còn loại bông lớn là “Lộc đậu ngự”.
Chỉ cần google một chút là có thêm thông tin:
Ở Việt Nam cây Lộc vừng có nhiều loại khác nhau, nhưng có dạng hình tương tự nhau với nhiều tên gọi khác nhau như: Lộc Vừng (Miền Bắc), Cây Mưng (Miền Trung), Cây Chiếc, Cây Rau Vừng (Miền Nam).
Loài Lộc Vừng phổ biến nhất: là Cây Chiếc hay Rau Vừng – Nam Bộ (Barringtonia Asiatica), có nguồn gốc từ môi trường sống ngập mặn trên bờ biển, hải đảo nhiệt đới của Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương. Loài này được trồng dọc theo đường phố cho mục đích trang trí và bóng mát. Ở Việt Nam, loài này mọc hoang ở vùng ven biển Nam Bộ và vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên.
Loài thứ hai là Cây Lộc Vừng Hoa Đỏ (Barringtonia Acutangula), loài này có nguồn gốc từ vùng đất ngập nước ven biển ở Miền Nam Châu Á  và Bắc Úc , từ Afghanistan về phía đông Philippines và đảo Queensland. Loài này là Cây Lộc Vừng được người Pháp du nhập và cho trồng ở quanh bờ hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội). Đây là loài cây có công dụng dược liệu quan trọng.
Loại thứ ba là Cây Lộc Vừng Hoa Trắng hay Hồng (Barringtonia racemosa ( L. ) Roxb.). Loài này còn có tên là Lộc vừng Hoa Chùm, Chiếc Chùm. Có tên thường gọi trong tiếng Anh là Stream Barringtonia, Freshwater Mangrove, Indian Oak, Indian Putat, Fish killer tree.
Thông tin trên về cây Lộc Vừng nghe có vẻ phức tạp như một bài sinh vật học, nhưng như vậy, cây Mưng của tôi cũng thuộc họ Lộc Vừng, người dân phố gọi nó là Lộc Vừng cũng không sai.
Một ngày đầu xuân, tôi lại về quê và ghé thăm anh Lê Dư ở Hải Trường, được chiêm ngưởng hai chậu Mưng đang trổ lộc đẹp không tả được. Vòm lá xum xê khiến người ta nghĩ đến sự phồn vinh, sung sức, no đủ, hạnh phúc. Hai cây Mưng kiểng này đã được anh hái lá vào một thời điểm thích hợp trước tết để đúng ngày Ba Mươi tháng Chạp là hé nụ và sáng Mồng Một là đâm chồi tím hồng  khắp cả cây.
-Năm ni bác Dư phát tài chi chưa chớ Lộc đến đầy sân rôi? Không phải Lộc Vừng nhỏ bé mà Lộc “đậu ngự”, lộc to lắm đây nghe.
Nghe tôi nói vậy thì một bác, cũng đang ghé thăm anh Dư, nói:
-Cái tên Lộc Vừng thì hay nhưng mà tui không ưa chú nờ.
Hỏi răng bác không ưa cái tên đó, bác ấy nói:
-Bởi nó làm người ta liên tưởng đến câu “Vừng ơi! Mở ra” trong truyện Ali Baba và Bốn Mươi Tên Cướp.
Rồi bác tóm tắt truyện đó như sau:
Ali Baba là một tiều phu nghèo, chăm chỉ và không tham lam, người anh trai tên là Kasim. Một hôm, tình cờ chàng phát hiện ra một cái hang bí mật chứa đầy kho báu quý giá của một băng cướp, với câu thần chú để mở và đóng cửa hang là: "Vừng ơi! Mở ra!" và "Vừng ơi! Đóng lại". Nhờ số của cải lấy từ hang bí mật về, chàng trở nên giàu có. Kasim được em mình kể lại tất cả sự việc liền nổi lòng tham, tự đi đến hang một mình mà không cần Ali Baba giúp đỡ. Vì choáng ngợp trước vàng bạc, của cải được phơi bày ra trước mắt mà Kasim đã quên mất câu thần chú mở cửa hang để đi về, do đó, bị băng cướp giết chết thành sáu mảnh. Việc khâm liệm Kasim được Morgiana (người được vợ chồng Ali Baba đem về nuôi từ bé và được coi như con đẻ) khéo léo thu xếp như với một cái chết bình thường để không ai nghi ngờ gì. Về phần băng cướp, sau khi biết hang bí mật đã bị lộ, tên tướng cướp lần lượt cử người ráo riết truy tìm cho bằng được tung tích của kẻ đã khám phá ra bí mật này. Nhờ mưu trí của Morgiana nên bọn cướp lần lượt bị tiêu diệt cho đến tên cuối cùng. Ali Baba tổ chức đám cưới cho con trai mình với Morgiana và từ đó cả gia đình họ sống rất hạnh phúc.
Bác nói tiếp: - Lộc đây vốn là của cải do sức lao động của người dân mà bọn cướp đã dùng vũ lực để cướp lấy. Một người không lao động gì cả, chỉ ao ước được lộc, dù đó là kết quả của cướp giựt, bóc lột, tham nhũng, quà cáp, thì người đó là kẻ tham lam, vô lương tâm bởi nếu mình được và sung sướng bao nhiêu thì người ta mất và đau khổ bấy nhiêu. Lộc là do nghiệp lành hoặc sức lao động mà có chớ không phải chờ của ăn cướp. Trong câu chuyện này chẳng thấy Ali Baba dùng của cải để làm việc thiện.
Truyện Ali Baba và Bốn Mươi Tên Cướp rất phổ thông, nhưng không biết có bao nhiêu người liên tưởng như bác nói. Dù sao, nhận xét của bác cũng khá thú vị.
Tôi nói: Ngày xưa vì còn khiêm tốn nên người ta lỡ đặt tên cây này là Lộc Vừng, chớ bây giờ, vào thời đại vật chất này, nếu đặt tên lại, người ta sẽ gọi nó là Lộc Hằng Hà, lộc nhiều như cát sông Hằng mới thỏa đó bác ạ.
NKP