Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

CHUYỆN LÀM DÂU





Tiệc đã đặt và hoa đã kết
Khách đầy nhà như tết đông vui
Xập xình kèn nổi trống chơi
Mừng cho con gái đẹp đôi duyên lành
Người người chúc đôi tình hạnh phúc
Mãi đến khi tóc mục răng long
Sinh ra trai tráng anh hùng
Gái thời hoa hậu lấy ông đại giàu
Đời vô thường biết đâu mà tính
Tâm con người ấm lạnh sao toan
Tháng đầu có vẻ êm trơn
Tháng sau sinh chuyện dỗi hờn, cãi nhau
Ở nhà mình được bao chiều chuộng
Đến nhà người làm tướng được sao?
Nếu quên chữ nhẫn buổi đầu
Thì e rắc rối về sau khó lường
Nhà chồng vốn có đường có lối
Nay mình về phải hỏi mà theo
Nếu không khác biệt giàu nghèo
Cũng là tập quán lắm điều khó xơi
Thêm một người cũng làm đảo lộn
Cái nếp nhà đã vốn bình yên
Nhà chồng dù vốn là hiền
Bỗng dưng thêm miệng cũng phiền người ta
Chuyện bếp núc thành ra phức tạp
Chén đũa dơ, nhà nhớp ai lau
Mẹ chồng nói có nàng dâu
Nàng dâu nói việc ấy đâu của mình
Từ đó sinh lình xình lủng củng
Bực mình rồi đá thúng đụng nia
Người này đổ lỗi người kia
Thành ra mâu thuẩn khó bề giải phân
Toan tính chuyện bước chân ra khỏi
Để bắt đầu một cõi sống riêng
Chạy theo cơm áo gạo tiền
Vợ chồng cãi cọ liên miên suốt tuần.
Và hạnh phúc chẳng buồn đến viếng
Mà vỡ tan cứ liệng ngoài sân
Nếu không nhịn nhún một phần
Thì đi cho khỏe, chẳng cần chờ lâu.       
Cuộc đời vốn lo âu sầu khổ
Nên luôn luôn phải cố bình tâm
Sống vì người làm phương châm
Hạnh phúc sẽ tự nảy mầm xanh tươi.







Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

CÁI CUỘN CHỈ - Truyện ngắn






CÁI CUỘN CHỈ

Truyện ngắn

Nguyễn Khắc Phước


Thượng lưu sông Thác Ma là vùng nổi tiếng với đặc sản chè lá, thơm và mít, cung cấp cho các chợ vùng hạ lưu chuyên trồng lúa và những chợ vùng duyên hải Quảng Trị, Thừa Thiên. Thím Lành là một trong những người chuyên buôn bán những mặt hàng đó.

Thím Lành ở thôn Tân Điền, cách chợ Mỹ Chánh chừng hai giờ đi bộ, thế mà ngày nào thím cũng kiũ kịt gánh hàng xuống chợ. Thiệt tội cho đôi vai của thím và cả cái đòn gánh oằn xuống như sắp gãy. Cứ vài chục bước thím lại đổi vai, chứng tỏ gánh hàng nặng lắm, nặng đến mức tột cùng của sức chịu đựng, tưởng như một cái lá cũng không thêm vào được.

Suốt buổi chiều, thím đến các chủ vườn mua hàng. Khi vừa đủ nặng, thím gánh hàng về nhà. Từ ba giờ sáng, khi trời còn tối mờ tối mịt, thím đã tất tả gánh hàng xuống chợ để kịp bán cho bạn hàng. Có khi thím phải đi đến các thôn vùng núi phía tây như Trầm Sơn, Khe Mương, hoặc bắt đò qua các thôn Vực Kè, Tân Lương bên kia sông, nơi trồng nhiều thơm, mít.

Đấy là vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, khi đất nước còn yên bình. Người ta có thể đi suốt đêm, trong túi không có bất cứ giấy tờ gì mà không sợ bị bắn nhầm hay xét hỏi. Những năm đó, đêm đêm dưới sông Ô Lâu văng vẳng giọng hò mái đẩy nhịp nhàng khoan thai từ những chuyến đò dọc mang hàng hóa từ Đông Ba đi khắp vùng Thừa Thiên, Quảng Trị, ghé những chợ bên sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu và đến tận sông Thạch Hãn, sông Hiếu… Nhiều người nghe đến thuộc những câu:

“Đập sông Bồ có khúc sâu khúc cạn

Chàng có thương thiếp, cho thiếp chộ hình chộ dạng để bớt nhớ thôi thương  

Kể từ ngày đào lựu cách trở hai phương  

Trông cho thấy mặt kẻo hai đứa hai đường thảm chưa?”

“Gió thổi pho pho đưa đò lên Huế

Trăng non Đoài vội xế Bao Vinh

Gặp nhau đây giữa ngã ba Sình

Có ai vô kết nghĩa chung tình ngàn năm?”….

Thím Lành quen biết rất nhiều giọng hò trên những chuyến đò dọc ấy bởi những chủ đò là bạn hàng của thím.

Mỗi khi xong phiên chợ, nếu hàng bán không hết, thím thường mang đến gởi nhà bác Thảo, một người bà con thúc bá bên chồng của thím. Bác Thảo làm nghề thợ may và mở tiệm ngay trong chợ Mỹ Chánh. Tiệm của bác khá rộng nên sẵn sàng cho thím gởi hàng. Hầu như bác Thảo không bao giờ phải tốn tiền mua chè lá và lâu lâu được thím tặng một trái thơm, trái mít ăn cho vui.

Thím Lành cũng mê hò Huế, nhất là hò giả gạo và hò đối đáp rất vui nhộn, nên mỗi năm đôi ba lượt, khi có đoàn hò Huế về hát ở sân đình làng Mỹ Chánh hoặc Lương Điền, thím gánh hàng xuống chợ ngay đêm hôm đó, ở lại nhà bác Thảo để đi xem cho được.

Một hôm, bác Thảo tìm không thấy một cuộn chỉ đen trong bao treo trên bàn máy may. Đó là trục chỉ còn nguyên, chưa dùng đến, bác phải bắt xe đò vô tận Huế mới mua được. Chỉ được cuốn quanh một cái lõi gỗ mà sau khi dùng hết chỉ, trẻ con thường dùng để làm xe để chơi. Bác lục trí nhớ xem hôm ấy có ai đến nhà mình không và dứt khoát chỉ có một mình thím Lành ghé lại. Bác chắc chắn thím Lành đã lấy cắp cuộn chỉ của mình chứ không ai khác, bởi vì nhà thím nghèo, rất cần chỉ để vá áo quần. Cả nhà thím, mọi người đều mặc áo vá. Cái áo dài thím mặc đi chợ cũng được vá vai.

Bác Thảo tức bực vô cùng, không lẽ lại phải vô Huế chỉ để mua một cuộn chỉ, mà đi lại đâu phải dễ dàng. Kể từ đó, mỗi lần thím Lành đến bác đều lạnh nhạt, không một tiếng chào, không nhận chè lá của thím biếu nữa.

Thím Lành không hiểu tại sao bác Thảo có thái độ khác thường như vậy, sợ rằng hàng hóa của mình làm chật nhà bác, từ đó thím không gởi hàng ở nhà bác và cũng không đến nhà bác nữa.

Thế rồi cuộc chiến càng ngày càng căng thẳng, không ai dám đi lại ngoài đường ban đêm, tiếng hò mái đẩy trên sông vắng dần rồi im bặt luôn. Con đường sắt trở thành giới tuyến. Phía tây thấp thoáng bóng các anh du kích khi đêm về. Ban đêm thím Lành và gia đình phải xuống hầm ngủ để tránh đạn đại bác và đạn súng đại liên từ đồn Mỹ Chánh cứ bắn xả vào làng.

Lâu lâu thím Lành mới xuống chợ, chỉ đi ban ngày và gánh ít hàng. Khi đò dọc không còn đến, khách hàng từ Huế ra mua bằng xe đò, nhưng chỉ được đôi lần rồi vắng luôn bởi đường sá không an toàn. Nhưng khó chịu nhất là khi vừa ra khỏi chợ, hàng hóa của thím bị lục tung, không biết họ kiếm cái gì.

Khi những chiếc máy bay phun cái chất bột màu trắng xuống làng thì mít là thứ cây đầu tiên bắt đầu chết rụi, kế đến là chè, thơm. Sau này thím mới biết rằng đó là thuốc khai quang và người ta nói cây nào có mủ thì chết trước.

Không còn chè, mít và thơm nên thím hết đường sinh kế, gia đình thím định bỏ làng mà đi. Thế nhưng chưa kịp đi thì một quả đại bác đã rơi vào vườn nhà thím và mảnh của nó đã giết thím.

Bác Thảo nghe tin nhưng không về phúng viếng. Có thể bác sợ nhưng không ai bắt bớ gì một người thợ may già như bác, hơn nữa, mấy anh du kích cũng là bà con thân thuộc với bác. Người ta nói nghĩa tử là nghĩa tận, mà bác còn ghét thím lâu vậy sao?

Mấy năm sau, một hôm bác đi ngang nhà hàng xóm khi chị chủ nhà đang ngồi ngoài hiên vá áo quần. Hồi ấy không có điện nên ngồi trong nhà thì không thấy lỗ kim mà xâu chỉ. Tình cờ bác thấy trên bậc thềm một cuộn chỉ đen loại có lõi gỗ y như của cuộn chỉ của bác. Cuộn chỉ còn khá mới, chưa dùng bao nhiêu. Những người không phải thợ may chỉ dùng cuộn chỉ nhỏ bằng ngón tay quấn quanh lõi giấy, hiếm khi người ta dùng loại cuộn chỉ to có lõi gỗ mà ở chợ Mỹ Chánh không ai bán. Bác hỏi chị hàng xóm mua cuộn chỉ này ở đâu, chị trả lời:

- Thằng con tôi đi chơi thấy đâu đó rồi mang về chớ tôi chẳng mua cuộn chỉ to này làm chi cho tốn nhiều tiền.

- Trước đây tôi có mất một cuộn chỉ như thế này và tôi đã nghi ngờ một người bà con lấy cắp. Chị làm ơn hỏi cháu lấy cuộn chỉ này ở đâu, nếu cháu lấy của tôi thì chị cho tôi biết, tôi sẽ bỏ qua không nói với bất cứ ai và chị cứ để đó mà dùng. Tôi biết các cháu rất thích lõi chỉ này để làm xe chơi chớ chẳng tham lam gì. Nếu cháu lấy thì tôi phải đến xin lỗi người bà con của tôi vì bấy lâu nay tôi nghi oan cho họ.

Tối hôm đó, chị sang nhà bác Thảo, một tay chị cầm cuộn chỉ, một tay cầm tay thằng con, biểu nó xin lỗi và trả lại cuộn chỉ cho bác.

Bác cầm cuộn chỉ mà rưng rưng nước mắt vì bác không bao giờ có thể gặp lại thím Lành để xin lỗi nữa, họa chăng là ở suối vàng mà thôi. 

N.K.P.

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2020

NGƯỜI QUÉT THỜI GIAN - Ursula Wills-Jones - Nguyễn Khắc Phước dịch



Nhà văn Ursula Wills-Jones.

Ảnh của Louise Gethin,




NGƯỜI QUÉT THỜI GIAN
Truyện ngắn của Ursula Wills-Jones 


Có thể bạn chưa từng quen biết những người quét thời gian. Người quét thời gian là người quét tất cả thời gian bị mất và lảng phí. Bạn không thể thấy họ được đâu cho dù bạn đang ở nhà ga xe lửa và nghĩ là mình thoáng thấy ai đó, có lẻ là người quét thời gian, đang lau chùi gần cái ghế dài nơi bạn đang ngồi. Giả sử bạn thấy họ, có thể đó là một người gầy ốm, xanh xao, dáng vẻ chăm chỉ, tay cầm chổi và cây lau nhà. Đàn ông thì mặc đồ lao động áo liền quần, phụ nữ thì mặc váy lỗi thời bằng vải tuýt thô và quấn khăn trên đầu.

Người quét thời gian có mặt bất cứ nơi đâu mà thời gian đang bị đánh mất hoặc lảng phí. Bao giờ cũng có vài người ở ga xe lửa, ít nhất cũng có một người ở phòng phẩu thuật của bác sĩ. Người chờ đợi quá lâu để cầu hôn đến nỗi tóc bạn gái mình đã bạc có thể có người quét thời gian riêng cho mình luôn ở bên cạnh. Người phụ nữ đã ba mươi lăm năm làm việc phát ngán trong một đại lý bất động sản, ước mơ mở một cửa hàng bán hoa, khiến cho người quét thời gian ở bên hàng xóm thở dài, và kiếm một cái xẻng hốt rác to hơn.

Bạn không nên thương hại những người quét thời gian, cho dù họ làm công việc tầm thường: họ không bao giờ đau ốm, đừng lo rằng họ chọn sai nghề, và có điều kiện làm việc tuyệt hảo, mặc dù không ai biết họ làm gì để giải trí. Họ thích những ngày ngân hàng nghỉ việc, vì lúc đó hình như có nhiều thời gian hơn ngày thường. Vào dịp Lễ Giáng Sinh và năm mới, người quét thời gian có một tuần nghỉ ngơi. Khi trở lại làm việc vào đầu tháng Giêng, họ phải xử lý một đống thời gian to tướng đã đánh mất, lảng phí, đó là lý do tại sao tháng Giêng dài hơn những tháng khác.

Người quét thời gian lâu nay bao giờ cũng hiện diện, dù cuộc sống hiện đại đã tạo nên thời gian bị lảng phí ở những nơi đông người lớn đến nỗi trong đó có vài nơi mà người quét thời gian bắt buộc phải công nghiệp hóa hoạt động của họ, mua một số xe nén chuyên dụng tương tự như xe của công nhân vệ sinh. Họ dùng xe này ở những nơi cần phải thu gom nhiều nhất, ở nhà tù hay ở khu mua sắm, ở hai nơi đó, thời gian bị lảng phí giống như thủy triều có thể dìm ngập ngay cả những người lành nghề tận tụy nhất.

Giả sử bạn hỏi một người quét thời gian, họ sẽ cho bạn biết một điều đáng ngạc nhiên: thời gian vui chơi giải trí không phải là thời gian lảng phí. Đang lau chùi trong một văn phòng lớn ngập ngụa buồn tẻ đến choáng váng, người quét thời gian đi thẳng qua người phụ nữ đang đọc tờ quảng cáo ngày nghỉ dưới bàn, mãi mê nghiền ngẫm hình những bãi biển nhiệt đới. Họ sẽ bỏ qua bàn tiếp theo, nơi người đàn ông đang thích thú tự hỏi bà mẹ vợ mặc đồ sao mà trông như là khỏa thân, và dừng lại ở bàn của người thanh niên đang đếm từng phút và chán ngán từng giờ.

Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết thời gian bị lảng phí sẽ ra sao khi nó được lau chùi sạch sẽ. Đừng bao giờ sợ, người quét thời gian là người tái chế nhiệt tình. Thời gian lảng phí được thu gom, chất vào nhữg côngtenơ to tướng, chuyển đến cảng Liverpool, chất lên tàu thủy, chở sang Ấn Độ. Ở đó, trong một khu công nghiệp đầy bụi bặm, nó được làm sạch, phân loại và xếp hạng. Thứ thời gian bị nhiểm độc nhiều nhất – dư lượng của những cuộc đàm phán hòa bình thất bại, bỏ tù người vô tội, những cuộc hôn nhân độc địa, được gạn ra và bỏ vào thùng để chôn ở một căn cứ quân sự không còn sử dụng. Ở đó, phải mất hai hoặc ba thế kỷ để nó phân hủy, và trở thành vô hại.

Thứ thời gian còn lại – sinh ra bởi những cuộc hội họp buồn chán, những cuộc hẹn bị lỡ, những chuyến xe buýt trể, những buổi tối vô vị ở rạp hát vì phải xem một vở kịch tồi - được làm sạch, chất lên tàu thủy và chở đến khu chế xuất công nghiệp Quảng Châu. Ở đây, nó được nén chặt, lưu kho, và chờ tái phân phối. Khoảng chừng hai mươi phần trăm được đưa thẳng đến các nhà máy ở khu chế xuất, nơi có tỷ lệ năng xuất cao nhất thế giới. Một phần tư được chính phủ Trung Quốc mua bằng đô-la tiền mặt. Mười phần trăm của phần cô đặc nhất được bán cho phòng thí nghiệm vật lý học nghiên cứu các hiện tượng, phản ứng ở nhiệt độ thấp ở California. Khoảng chừng hai mươi phần trăm được bán riêng cho những khách hàng tư nhân giàu có, những lão già giàu nhất vừa cưới được những cô vợ trẻ đẹp.

Tuy nhiên, những người quét thời gian không làm việc đó vỉ lợi nhuận. Tiền kiếm được từ những giao dịch này trả cho những họat động của họ bao gồm máy hút, bao bì, áo quần lao động và việc chuyên chở. Phần còn lại được phân phối cho những mục đích tốt. Không ai nhận thêm thời gian phải điền vào đơn xin hay yêu cầu một khoản trợ cấp. Tất cả đều không biết họ đang được trợ giúp. Một trong những người hưởng lợi là một nhà khoa học tiều tụy và mệt mỏi trong một phòng thí nghiệm công cọng tồi tàn ở ngoại ô Novosibirsk, người sẽ tìm ra thuốc chủng ngừa bệnh sốt rét. Một người khác là cô gái điếm trong khu ổ chuột ở Nairobi, phải nuôi dưỡng mười bảy đứa trẻ, và mặc dù hai mươi năm trong nghề vẫn chưa bao giờ đau ốm. Một phần ba dành cho anh tài xế tắc-xi người Ấn-Độ sống trong một căn hộ chật hẹp ở Toronto, vừa kiếm tiền để gởi về nhà nuôi bà vợ đau ốm và các con, vừa viết một cuốn sách mà về sau được công nhận là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của thế kỷ.

Không phải tất cả những ai nhận được sự hào phóng của người quét thời gian đều là con người. Cách Timbuktu chừng bốn mươi dặm, một nhà thờ Hồi-giáo thời trung-cổ, bị cát chôn vùi, được chuyển giao khoảng mười năm một lần. Một nơi nào đó dưới đáy biển Aegean, một chiến thuyền của người Troia được bảo quản thần kỳ trong bùn. Tương tự như vậy, những người quét thời gian cũng tặng một ít thời gian cho một ngôi đền ở Mexico, và bảo quản một kho báu của kẻ cướp từ Thời-kỳ-đen-tối trong một đầm lầy ở Galway.

Một khoảng thời gian từ thiện được giữ lại cho các tình huống khẩn cấp, cả nhỏ và lớn. Nó được thả xuống bằng dù trong những lúc tuyệt vọng, và đã tạo điều kiện cho những thỏa thuận hòa bình, thay đổi cuộc chiến, và cho phép nhiều người cha kịp đến phòng sinh.

Những người quét thời gian, đúng như bản chất của họ, thích gọn gàng và trật tự. Họ muốn loài người phải suy nghĩ về việc lảng phí thứ quý giá này, nhưng không hy vọng điều đó sẽ sớm xảy ra.

Chẳng có bài học đạo đức nào trong truyện này. Chỉ là nếu bạn định vứt thời gian của bạn, thì xin nhớ rằng có người phải nhặt lại.

***

Nguyên tác: The Time Sweepers của Ursula Wills-Jones đăng trên trang web Eastoftheweb.com.
Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

***
Ghi chú của người dịch:
.Novosibirsk: một thành phố ở Nga.
.Toronto: thành phố lớn nhất của Canada.
.Timbuktu: một thành phố ở Mali.
.Biển Aegean: thuộc Địa Trung Hải.
.Troia (còn có tên là Troy): một thành phố thời cổ Hy Lạp, được nhắc đến trong truyện Iliad, bộ thơ anh hùng ca cổ Hy Lạp được coi là của Homer.
.Thời–kỳ-đen-tối: thời kỳ suy thoái sau sự suy tàn của đế chế La Mã.
.Galway: một thành phố ở Cộng hòa Ireland.










Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020

Có gì vui?




Chiều buồn không mà âm u thế này?
Mưa buồn không sao mưa cứ bay?
Ai buồn không mà im tin nhắn?
Rượu buồn không mà sao chẳng cay?

Trăng chưa vui mà trăng đã khuyết!
Ngày chưa vui mà ngày đã sang!
Tình chưa vui mà  tình đã tuyệt!
Đời chưa vui mà đời đã tàn!

Đang bữa ăn mắc chi thở dài?
Giữa đêm khuya đi quanh tìm ai?
Chốn đông người sao ngồi im như  gỗ?
Trời trống không sao cứ ngó hoài?

Sông cạn sâu mà dò làm chi?
Người đã xa thôi nhớ làm gì?
Nước cứ trôi cầu sao ngăn được!
Công đâu ngồi dõi bóng chim di!

NKP

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019

CHÚA Ở ĐÂU? - Thơ NGUYỄN KHẮC PHƯỚC



Chúa hiện diện trong từng cánh hoa
Chúa lượn quanh theo con bướm trước nhà
Chúa là nắng hồng bình minh rực rỡ
Là ngọn gió chiều mát rượi làn da

Chúa trong vòng tay anh mỹ miều
Chúa rộn ràng nhịp trái tim yêu
Chúa hãi hùng đạn bom chinh chiến?
Chúa kinh hoàng bão xoáy lửa thiêu?

Chúa cho ta cõi vô thường làm nôi
Chúa dạy ta luật nghiệp chướng luân hồi
Chúa chỉ đường để ta tự đến
Cõi vĩnh hằng ngay trong trái tim thôi

Chúa đã cho ta tất cả, đủ rồi
Đừng cầu xin chúa nữa bạn ơi
Hãy trở về cõi tâm tĩnh lặng
Để thấy trong ta đã có chúa rồi.

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

NGƯỜI ĐÀN BÀ TUỔI DẦN - Truyện ngắn Nguyễn Khắc Phước





Nguyễn Khắc Phước
NGƯỜI ĐÀN BÀ TUỔI DẦN
Truyện ngắn

Tôi tên là Lê Thị Đảnh. Lúc đầu cha tôi làm khai sinh đặt tên Dần vì tôi tuổi Dần, nhưng mạ tôi không chịu, sợ sau khó lấy chồng, xin hộ tịch đổi lại tên Đảnh. Có lẽ Dần dễ sửa thành Đảnh, chớ lúc mới sinh, tôi có đỏng đảnh gì đâu. Thế nhưng tôi thích tên Dần hơn vì bọn con trai trong làng thường giễu tôi là “đỏng đảnh như mụ Cảnh n.l.”, bị tôi rượt chạy có cờ nhưng rồi chúng nó vẫn cứ nói câu bậy bạ đó.
Quê tôi miền Trung, có dòng sông nước bốn mùa trong vắt. Hồi tôi còn bé, hai bờ chưa bị xói lở như bây giờ. Mỗi xóm chọn một bãi tắm gần nhà. Chiều đến, nhất là vào mùa hè, dàn ông, đàn bà, già trẻ lớn bé đổ xuống bến tắm giặt. Mẩy ông lớn tuổi thoải mái cỡi truồng, hai tay bụm chỗ kín, tà tà lội xuống nước, cố tình lội ngang đám đàn bà và bắt chuyện: “Chiều ni nóng quá, mấy o hí?”
Mấy thằng cỡ 14, 15 bằng tuổi tôi lúc ấy chưa bao giờ mặc quần lúc tắm. Sáu Dư là đứa nghịch nhất bọn, thường bơi ngữa, mình chìm dưới nước, chỉ để lộ con chim trên mặt nước, tự gọi là tiềm thủy đỉnh. Đôi khi nó giả bộ bơi lộn sang đám con gái làm chúng tôi phải chạy tứ tán.  Có lần tôi vung tay qua lại nghịch nước, đụng phải vật gì đó, quay lại thấy Sáu Dư bụm chim chạy lên bờ, kêu đau quá đau quá rồi nằm lăn xuống cát. Tôi lên bờ, dựt tay hắn ra xem có sao không, hắn liền vùng dậy, vừa chạy vừa kêu: “Con Đảnh rờ chim tau, con Đảnh rờ chim tau, tụi bây ơi.” Đó là lần đầu tiên tôi dụng phải chim của Sáu Dư.
Sáu Dư cũng là thằng chuyên chơi trò tuột quần dây thun. Mỗi khi có nhóm bạn, đặc biệt khi có trai lẫn gái, lợi dụng lúc họ đang nói chuyện say sưa, hắn lén đến sau lưng một người, hai tay nắm hai bên hông quần, tuột xuống thật mạnh. Người bị tuột quần không bắt nó được vì hai tay phải nắm quần kéo lên. Sáu Dư thường bị rượt đuổi nhưng rồi hắn quay lại, nhe răng cười trừ.
Hết chiến tranh, tôi rời trại tạm cư về quê, lúc ấy đã là cô gái trên hai mươi. Tất cả ruộng tư đều sung vào hợp tác và tôi thành xã viên, bắt đầu học nhổ mạ, cấy lúa, gánh phân, làm cỏ. Sáng tinh mơ nghe kiểng là dậy, ăn vội mấy củ khoai hoặc sắn nấu sẵn từ đầu hôm, gói thêm mấy củ nữa dành cho bữa trưa, rồi tất tả ra đồng, tối mờ tối mịt mới rời ruộng, về đến nhà thì đã đỏ đèn. Bữa tối mới có chén cơm độn khoai sắn, chỉ vừa lưng bụng, nửa đêm thức giấc, đói thắt tha thắt thẻo, không ngủ được.
Trai gái trong làng cỡ tuổi tôi lần lượt lập gia đình, riêng tôi không ai ngó ngàng đến vì họ sợ tuổi Dần. Tôi ghét lão nào ngày xưa bắt con người cầm tinh con vật. Con người và con vật khác loài, mắc chi con người mang tuổi vật, vậy con vật mang tuổi gì? Trong khi đó, người và vật, theo nhà Phật, đều là chúng sinh như nhau. Cái thời con người và con vật sống bên nhau ấy đã xa lắc rồi. Thời đó, người còn ăn lông ở lỗ, cọp nhởn nhơ đầy rừng, sẵn sàng vồ người giết thịt, còn bây giờ, người ta giết cọp sạch trơn, chẳng thấy một con. Cọp thì không sợ, lại sợ người mang tuổi cọp. Vớ vẩn!
Sáu Dư lấy vợ, có hai con, trở thành đội trưởng đội sản xuất số 5, thường gọi là đội 5. Tên thôn, tên làng gần như bỏ hẵn, chỉ dùng tên đội. Tôi là đội viên của anh ta.
Bọn đàn ông ban ngày cày bừa, ban đêm tranh thủ cầm đèn đi soi, gặp con gì bắt con nấy, kể cả rắn độc. Riết rồi chẳng nghe thấy ếch, nhái, ểnh ương gì kêu hết trọi. Sau tối họp đội, họ thường đi soi tập thể, rồi tập trung tại một nhà ai đó làm mồi nhậu với rượu sắn, nói chuyện ba xàm tới quá khuya mới về. Còn bình thường, họ mang về nhà cho vợ con nấu cháo để được thêm chút đạm.
Tôi cấy chậm và thường ít điểm hơn người ta. Trong một buổi họp, đội cần một chân bảo vệ kho lúa ban đêm, hỏi ai cũng lắc đầu, tôi liền đưa tay xin nhận. Lúc đầu người ta nhìn tôi châm chọc nhưng cuối cùng phải nhận tôi vì trong đám thanh niên lúc ấy chỉ có tôi còn độc thân, những người còn lại đều đã có gia đình, ban đêm họ ôm nhau ngủ ấm, mắc chi phải ôm bao lúa cho lạnh.
Ban ngày tôi đi làm đồng, tối về ăn cơm xong, ôm mền lên kho lúa ngủ. Tôi dậy lúc sớm bửng khi dân làng còn ngủ, lén dấu mấy lon lúa lép trong mền, đem về cho vịt ăn.
Một sáng nọ, khi tôi vừa ra khỏi sân kho thì Sáu Dư xuất hiện, chỉ vào cái mền, ra lệnh: “Cái chi trong đó, bỏ ra coi.” Tôi lẹ tay hất cái mền, lúa lép bay tung tóe, và ngay lập tức, tôi cỡi quần nằm ngay xuống bãi cỏ, la lớn: “Dáu Dư hiếp tui, Sáu Dư hiếp tui, bà con ơi!” La lớn nhưng kho lúa cách nhà gần nhất cũng gần nửa cây số nên không ai nghe. Sáu Dư bỏ chạy mất dạng. Tôi bình tĩnh trở lại kho lúa, xúc lại mấy lon lúa lép, nếu không thì lấy gì cho vịt ăn!
Buổi họp đội sau đó chẳng thấy Sáu Dư nói gì về chuyện tôi ăn cắp lúa lép.
Sau buổi họp mấy đêm, lúc ấy đã khuya, tôi nghe có tiếng chân người ngoài sân, liền tằng hắng, cho biết mình đang thức. Có tiếng nói khẽ, đúng là giọng Sáu Dư. “Này này, lúa lép bữa nay có nhiều hạt chắc lắm nghe, sàng sảy ra mà dùng, đừng cho vịt ăn hết, uổng lắm.”
Tôi như mở cờ trong bụng, làm thinh, giả bộ không nghe, đoán biết hắn đã thấy cái gì hôm đó rồi, mà đã thấy thì không thể không thèm. Hắn cũng tuổi Dần như tôi, mà cọp thì thường trở lại bắt con mồi vồ trượt.
Chừng một tuần sau, cũng vào lúc nửa đêm, tôi nghe tiếng Sáu Dư thì thào: “Đảnh ơi!… Đảnh ơi!...” Tôi gắt giọng: “Ai đêm hôm khuya khoắt định đến ăn trộm lúa phải không? Đi đi, không tui đánh kiểng báo động xã viên tới bắt liền đó.” Sáu Dư nói: “Thôi mà, thôi mà! Sáu Dư đây. Tui báo công Đảnh làm tốt nên họ thưởng cho Đảnh tấm vải đây, mở cửa ra tui đưa cho.” “Có thiệt không?” “Thiệt chớ răng không.”
Tôi hé cửa và Sáu Dư lẻn vào. Trong bóng tối, hắn đưa cho tôi một gói giấy, tôi sờ và ngửi thì đúng là vải mới thật. Tôi nói: “Răng ban ngày ban mặt không đưa, mắc chi đêm hôm đi cho cực?” Sáu Dư nói: “Nói thiệt hôm trước chộ rồi, về khó ngủ quá, cứ tơ tưởng miết. Bữa ni cho chộ chút nữa được không?”
Đúng như tôi đoán, con cọp này trở lại tìm mồi lần nữa. Kiểu này thì không thể từ chối hắn được vì hắn đã bỏ qua tội tôi ăn cắp lúa lép, lại còn cho quà. Tôi ỡm ờ: “Tối thui thế ni mà chộ chi, để lúc khác được không?” Hắn nói: “Miễn răng tui chộ được thôi.”
Tôi để cho Sáu dư “chộ” thoải mái đến độ tôi không cịu được nữa, biểu hắn ngồi lên bao lúa giống trên đầu giường và tôi chồm lên. (Bởi cái giường tre tôi nằm quá ọp ẹp, không thể chịu đựng sức nặng của hai người.)
Mỗi tuần Sáu Dư đến với tôi hai, ba lần. Để cho an toàn nên anh ta ngủ với vợ rồi mới đi, nói ra đồng kiểm tra xem nước đã được trổ vào ruộng chưa hoặc đi đếm xem bao nhiêu bó mạ đã được nhổ tối nay. Vậy tôi chỉ hưởng chút xái tăng hai nên chẳng đâu vào đâu.
Chuyện vụng trộm ấy chẳng nhớ kéo dài được mấy tháng thì tai họa xảy đến. Một đêm hai đứa tôi mệt quá, ngủ đến sáng trợt, giật mình vùng dậy khi nghe tiếng đám đông bên ngoài sân kho. Thì ra vợ Sáu dư biết được, dẫn người đến vây kho lúa.
Sau vụ đó, Sáu Dư bị mất chức đội trưởng, bẽ mặt quá phải bỏ nhà ra đi. Còn tôi mất chân thủ kho, mất cả tư cách xã viên. May cho tôi là đàn vịt nhờ ăn lúa chắc đã phổng phao, bắt đầu đẻ trứng. Tiền bán trứng tôi dùng để gầy thêm một đàn vịt nữa. Chẳng bao lâu tôi trở thành một phụ nữ chăn vịt thả đồng chuyên nghiệp. Hằng ngày tôi lùa vịt ra đồng kiếm ăn, dẫn tới ao cho chúng tắm. Mùa hè tôi cắm trại luôn ngoài đồng, một phần để tránh mụ vợ Sáu Dư lâu lâu ngứa mồm lại đến nhà tôi chửi rủa.
Đàn bà mà dám ngủ một mình giữa đồng không mông quạnh bởi tôi biết đàn ông xứ này ớn con tuổi Dần này rồi, sợ đụng vào thì thân bại danh liệt, phải tha phương cầu thực như Sáu Dư, làm sao chịu nổi.
Những lần đi lại với Sáu Dư thực bụng tôi muốn tự túc một đứa con để sau này già mà cậy, thế nhưng rất tiếc tôi không mang bầu. Sau này tôi nghe chuyện phòng the của cánh phụ nữ mới nghiệm ra rằng một phần Sáu Dư đã trút hết cho vợ trước khi đến với tôi và một phần vì tư thế ngồi kiểu đó thì không có cái gì bơi đến nơi đến chốn.
Năm năm sau khi bỏ làng ra đi, Sáu Dư trở về với thân thể tiều tụy, nước da vàng tái mét. Nghe nói anh ta lên Tây Nguyên làm thuê cho bọn lâm tặc, vác cưa vào rừng trộm gỗ, nhiều lần bị kiểm lâm đuổi chạy. Kiểm lâm thì thoát được nhưng muổi thì chịu. Anh ta bị bệnh sốt rét, bị bọn lâm tặc đuổi việc, đành phải về quê. Tôi cảm thấy mình có lỗi, muốn tìm cách giúp đỡ nhưng không biết cách nào.
Sáu Dư về với vợ thấy êm ru, không hục hặc gì, lại còn được vợ bồi dưỡng nên sức khỏe ngày càng khá hơn. Ai cũng khen vợ Sáu Dư coi vậy mà chung thủy, rộng lượng, đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại.
Rồi vợ Sáu Dư có bầu. Hôm chị ấy sắp ở cữ, ý tá xã đoán khó sinh nên chuyển lên bệnh viện tuyến huyện. Vào buổi chiều, tôi thấy Sáu Dư và một thanh niên khác cùng cáng chị ấy lên đường lộ để đón xe, theo sau là mẹ ruột của chị.
Chừng hai hôm sau, khi tôi đang ngủ trong lều giữa đồng thì có ai đó đập vào mông, giựt mình thức dậy thì tháy Sáu Dư ngồi bên cạnh.
“Ủa, răng không đi theo vợ mà ở nhà rứa?”
“Một người được rồi, nhiều người làm chi cho tốn,” Sáu Dư thở dài.
“Vậy tối nay thoải mái nhé?”
“Thôi thôi, chịu rồi,” Sáu Dư buồn bã lắc đầu.
“Thiệt không? Tui kiểm tra nhe?”
Tôi vật Sáu Dư ra để kiểm tra thì quả thực cái đó còn mềm hơn cả ngón tay thứ sáu không xương của anh.
“Răng lạ rứa?” tôi ngạc nhiên hỏi.
“Thời thanh niên chỉ khoai sắn mà phục vụ một lúc tới hai bà, sau đó vào rừng làm việc như trâu, ăn uống thiếu thốn, bữa đói bữa no, lại còn bị sốt rét, thử hỏi còn sức đâu mà ham,” Sáu Dư lại thở dài.
“Rứa anh mần răng mà chị có bầu?”
“Tối nào cũng ôm ấp nhưng không mần chi được nên nó phải đi kiếm người khác. Ông ăn chả, bà ăn nem, thôi đành im cho rồi. Tại mình cả thôi, bụng làm dạ chịu. Cũng không tệ lắm, it bữa nữa, tôi sẽ được phân thêm ruộng. Con ai đem bỏ chùa này…,” Sáu Dư cười chua chát.
“Chấp nhận như rứa là tốt. Tui có ít tiền đây, mai anh mang lên trả viện phí và thăm vợ con.”
“Mắc chi mà trả. Thằng cha nó sẽ trả viện phí,” Sáu Dư vùng vằng.
“Nói rứa mà nghe được à! Anh vừa mới mừng sắp được phân thêm ruộng răng chừ nói ngược rứa? Không lấy tiền này để trả viện phí thì ngày mai ở nhà giữ vịt, tui sẽ lên thăm chị ấy,” tôi làm bộ quả quyết.
NKP




Thứ Ba, 17 tháng 12, 2019

CÓ QUA CÓ LẠI... - Truyện ngắn hài hước của Jon Langford - Nguyễn Khắc Phước dịch.




     "Chào ông, ông mua gì ạ?"
     "Tôi muốn trả lại cái đồng hồ báo thức."
     "Nó hư gì vậy, thưa ông?"
     "Báo thức không hoạt động."
     "Ý ông là sao?"
     "Không có âm thanh."
     "Ông đã đọc hướng dẫn sử dụng để sửa chữa chưa?"
     "Rồi."
     "Và nó vẫn không hoạt động?"
     "Không."
     "Được rồi, ông có biên nhận không?"
     "Không, tôi chẳng thấy biên nhận nào cả."
     "Vậy thì cháu không thể hoàn lại tiền cho ông được."
     "Ồ không, anh hiểu sai, tôi không muốn hoàn lại tiền, tôi chỉ muốn đổi nó để lấy một cái còn tốt."
     "Được rồi, ông có bao bì gốc không?"
     "Không, tôi đã vứt nó đi rồi."
     "Cháu không thể đổi mà không có bao bì ban đầu."
     "Nó có vỏ bọc bằng plastic, tôi phải mở bằng dao, tôi không hiểu tại sao anh lại cần bao bì?"
     "Chính sách của chúng cháu về việc đổi tất cả sản phẩm là phải được trả lại trong bao bì ban đầu của nó."
     "Đó chỉ là một cái bao nhựa thôi, tại sao tôi lại phải giữ nó?"
     "Trong trường hợp ông cần trả lại vật phẩm."
     "Tôi không nghĩ rằng một cái đồng hồ báo thức sẽ hư sau một vài tuần. Vậy mà anh lại nói rằng anh không thể làm bất cứ điều gì để giúp đỡ?"
     "Cháu muốn giúp ông nhưng cháu cần một số bằng chứng ông đã mua ở đây."
     "Tôi là bằng chứng, bây giờ tôi nói với anh rằng tôi đã mua nó ở đây, thực ra, tôi nhớ không lầm thì chính anh đã bán cái đồng hồ này cho tôi."
     "Ông đã đăng ký số bảo hành sản phẩm trực tuyến?"
    "Không."
     "Ah, đó là một vấn đề, ông trả tiền bằng cách nào? Tiền mặt hoặc thẻ?"
     "Tiền mặt."
     "Nếu ông đã thanh toán bằng thẻ, ông có thể nhận được một thông báo từ ngân hàng của ông chứng minh rằng ông đã mua hàng ở đây và vào ngày nào."
     "À, tôi đã trả tiền mặt."
     "Vấn đề là các cửa hàng khác cũng bán thương hiệu này. Ông có thể mua nó ở bất cứ đâu."
     "Tôi có thể, nhưng tôi không, tôi đã mua nó ở đây và nó không hoạt động và anh nợ tôi một đồng hồ báo thức."
     "Ông mua nó khi nào?"
     "Vài tuần trước."
     "Chính sách giao dịch của chúng cháu là 21 ngày và ông có thể đã hết hạn bảo hành."
     "Tôi đã mua nó vào tháng trước và tôi không nhớ ngày chính xác".
     "Chúng cháu đã bán mẫu đồng hồ này vài năm nay rồi."
     "Anh nói tôi nói dối à?"
     "Không, thưa ông, cháu chỉ đơn giản nói rằng ông có thể mua nó 22 ngày trước và trong trường hợp đó, ngay cả với biên nhận và bao bì gốc, cháu cũng sẽ không thể làm bất cứ điều gì để giúp đỡ."
     "Không làm gì được?"
     "Không."
     "Vậy tôi phải dùng cái đồng hồ báo thức bị lỗi này mãi à?"
     "Ồ, ông có thể gửi nó cho nhà sản xuất bằng một bức thư giải thích vấn đề."
     "Nó được sản xuất ở Trung Quốc, và chẳng đáng để chịu phức tạp như vậy."
     "Vậy thì cháu sẽ đề nghị ông mang nó đến một cửa hàng sửa chữa."
     "Mấy thứ này mà đem sửa chữa thì coi bộ tốn nhiều tiền hơn giá mua nó."
     "Cháu biết."
     "Tôi có thể nói chuyện với người quản lý không?"
     "Người quản lý nghỉ hôm nay."
     "Vậy tôi có thể nói chuyện với bất cứ ai phụ trách?"
     "Dạ, cháu đây."
     "Ngày mai người quản lý có đến không?”
     "Không."
     "Vậy ngày nào anh ta đến?"
     "Đó là một cô ạ."
     "Được rồi, khi nào cô ấy đến?"
     "Thứ hai."
     "Tôi sẽ trở lại vào thứ hai."
     “Dạ, được ạ. Hôm nay, ông có cần gì khác nữa không ạ?”
     "Có lẽ không."
     "Được rồi, ông có muốn mở thẻ cửa hàng không? Miễn phí hoàn toàn và ông nhận được 5% mỗi lần mua hàng".
     "Không, cám ơn."
     "Nếu ông mở ngày hôm nay, ông sẽ có được một món quà miễn phí."
     "Món quà miễn phí là gì?"
     "Đồng hồ báo thức."

Jon Langford
Nguyễn Khắc Phước (dịch)
Nguyên tác: Tên truyện: “The Exchange”, đăng trên eastoftheweb.com.







Bài thơ trên bao giấy đựng hàng đi chợ - Nguyễn Khắc Phước dịch



Đừng đứng bên mồ tôi mà khóc - Mary Elizabeth Frye

Mary Elizabeth Frye (1905-2004) vốn là một bà nội trợ kiêm nghề trồng hoa ở Baltimore (Maryland, USA). Năm 1932, xúc động trước nỗi đau của một phụ nữ láng giềng người Đức gốc Do Thái tên là Margaret Schwarzkopf không thể về dự đám tang mẹ ở Đức và cảm hứng từ câu nói “Tôi muốn về đứng bên mộ mẹ tôi để khóc” của người phụ nữ ấy, bà Frye đã sáng tác bài thơ chưa đặt nhan đề và viết ngay vào bao giấy đựng hàng đi chợ mặc dù trước đó chưa bao giờ làm thơ.

Bài thơ trở nên nổi tiếng nhờ được nhiều người thích, chép lại, phổ nhạc và thường đọc vào những dịp tang lễ khắp nơi trên thế giới trong hơn 60 năm nay. Năm 1998, nữ ký giả Abigail Van Buren đã điều tra và công bố tên tác giả nhưng ít ai biết thông tin này.

Bà Mary Elizabeth Frye có thể không phải là một Phật tử nhưng bài thơ trên thấm đẫm quan niệm về vô ngã của đạo Phật.

Có thể tìm thấy trên Internet vô số slide đẹp như thế này 


Do Not Stand at My Grave and Weep

Do not stand at my grave and weep,
I am not there; I do not sleep.
I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circling flight.
I am the soft starlight at night.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.


Đừng đứng bên mồ tôi mà khóc
Tôi đi rồi. Tôi không ngủ đây
Tôi là ngọn gió lành đang thổi
Là tia sáng ngọc trên tuyết bay
Là nắng trên cánh đồng lúa chín
Là mưa rơi nhè nhẹ ngày thu
Lúc hừng đông còn trong tĩnh mịch
Là tiếng chim vỗ cánh êm ru
Là ánh trăng đêm chiếu dịu dàng.
Thôi đừng đứng đó để khóc tang
Tôi không chết. Không bao giờ chết
Tôi vẫn mãi hoài trên thế gian.

Nguyễn Khắc Phước sưu tầm, tạm dịch và giới thiệu.

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

KỶ NIỆM VUI BÊN AO LÀNG – Htin Lin (Myanmar) - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước






KỶ NIỆM VUI BÊN AO LÀNG
Htin Lin (Myanmar) 
Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

Cứ đến hè và gần ngày Lễ hội Thắp đèn Thadingyut, tôi lại mong được về thăm làng của anh Hai Khant.
Thời học sinh, tôi thường về đó vào những dịp nghỉ lễ.
Cũng giống như những làng khác ở Mianmar, nhưng vì có anh Hai Khant  nên ngôi làng này trở nên tuyệt vời.  Ngay cả dưới nắng hè rộp da, tôi cũng được cười suốt vì những câu chuyện thú vị của anh.

Anh là một nông dân thô kệch bình thường nhưng đứng đắn, vui vẻ, thân thiện và có khiếu hài hước. Người làng mến anh và gọi anh là “Anh Hai (1) Khant” hoặc “Chú Khant” tùy trường hợp. Anh là người độc thân thứ thiệt và là người lớn tuổi nhất chưa vợ, cho nên anh trở thành người lãnh đạo không chính thức của đám trai làng (2). Cho đến khi tôi viết bài này, anh đang ở tuổi bốn mươi, vẫn chưa vợ, bố đã mất và anh sống với mẹ. Anh nói: “Mẹ tui biểu tui còn độc thân thì nên đi chơi cho vui vẻ, vậy nên tui phải đi, nhưng thực ra tui không còn trai trẻ nữa, ngay cả thị lực của tui cũng đã yếu rồi.”

Anh và tôi thường đi cà rỏng trên đường làng để ngắm các cô gái đi gánh nước, đặc biệt là những cô đẹp. Anh tán tỉnh, gọi họ là “em” hoặc “cháu”  tùy theo tuổi.  Không ai tỏ vẻ bực mỉnh. Họ giỡn lại, hoặc cười và liếc mắt nhìn anh.  Sao anh quen lắm cô thế này nhỉ! Số may thiệt! Tôi đâm ghen với anh. Nhưng không phải tất cả đều tử tế với anh.
 “Này anh, coi chừng đó nhé,”  một cô nói khi gặp anh.
“Ê, chuyện gì vậy, em? Anh có nên kể cho mọi người trong làng nghe không, hở?
“Thách anh đó! Đố anh dám! Tui sẽ cho anh biết tay!”


Cô này là người duy nhất tỏ vẻ giận dữ với anh. Tên cô là Ma Hla Aye, con gái ông U Thudaw, trưởng xóm. Tôi không hiểu sao một người được nhiều cô mến như Hai Khant lại bị cô này mắng như thế. Tôi hỏi anh thì anh trả lời ngượng ngùng: “Thôi, mầy biết làm chi.”
Câu trả lời của anh khiến tôi thêm tò mò.
“Anh Hai Khant này, hé mộtchút thôi, được không?”
Anh cứ cười cười, vẻ bí mật.
“Không có gì đâu, nhóc. Tao không muốn cho chú mầy biết đâu. Chỉ một từ cũng lộ cả câu chuyện."
“Một câu chuyện lận hả? Kể đi, kể cho em nghe đi. Bí mật, chỉ mình em thôi.”
Anh chẳng chịu kể nhưng cứ vừa đi vừa cười cười. Tôi tiếp tục van nài anh đến nỗi cuối cùng anh nói:
“Thôi được, nếu chú mầy tha thiết muốn biết thì tao sẽ phá lời hứa mà kể cho chú mầy nghe.”
Anh dừng lại để đốt tẩu thuốc, sau đó hai chúng tôi ngồi dưới bóng những cây Thabye mọc thành một vòng.

“Chuyện xảy ra vào Lễ Té Nước năm ngoái,” anh bắt đầu kể.
Anh ngậm tẩu và rít mấy hơi. Tôi nóng ruột chờ đợi.
“Trong thời gian lễ hội, như mầy biết, tất cả dân làng đều đến các thiền viện để ăn chay và giữ giới nhà Phật. Người ngồi thiền, người lần tràng hạt và cầu nguyện, do đó, không còn ai ở làng. Bọn trai làng chúng tao đi từ thiền viện này sang thiền viện nọ có vẻ như là mộ đạo lắm, nhưng thực ra để được các nhà sư và người cúng dường mời ăn, rồi sau đó, khi đã no nê, bọn tao tìm một bóng cây râm mát và ngủ trưa.

“Năm ngoái mẹ tao đi đến tu viện quá sớm nên tao nấu cơm và mang đến cho bà. Sau đó, tao nhác mang lồng cơm về nhà nên định đến nhà trọ trong tu viện để nghỉ trưa. Nhưng chỗ đó đông người quá nên tao định mượn sư một chiếc chiếu và mang ra chỗ bóng cây để nằm ngủ. Thấy tao, sư tưởng tao đến ăn chay nên vui vẻ, nhưng khi tao nói mượn chiếu thì sư không vui. Sư nói: ‘Vậy là anh định ngủ khò như cái xác, phải không?  Không có chiếu đâu, kiếm chỗ ngồi và lần tràng hạt đi. Nếu thấy anh ngủ thì thầy sẽ đánh đòn anh đấy nhé.’  
“Tao chẳng biết làm gì nữa. Tao nói đã bỏ quên tràng hạt ở nhà rồi và ngỏ ý mượn của sư.  Sư vui vẻ cho mượn ngay và khen tao.  Không có chiếu nên biết làm gì đây?  Tao cũng không muốn chọc sư giận đến nỗi phải đánh tao nên tao quàng cái tràng hạt vào cổ và bước đi. Tao tìm một chỗ cách xa thiền viện; vì nếu thấy tao ngủ, có thể sư sẽ đánh tao, sư biết tao từ hồi còn bé nên tao không dám liều. Thế là tao cứ đi mãi đến cái ao phía đông nam của thiền viện, chú mầy biết cái ao đó chớ?

“Chú mầy có nhớ mấy cây Thabye rậm rạp mọc trên bờ và  vươn cành  trên mặt nước không? Tao định ngủ dưới bóng cây nhưng thấy cái gì đó màu vàng nên tao trèo lên một cành to xoải trên mặt hồ. Chỗ này kín lắm, khó ai mà thấy.  Tao dựa lưng vào thân cây, treo cái áo mới lên một cái cành để nó khỏi nhăn và kéo gọn cái xà rông mới quanh đùi. Cha chả! Gió mát ơi là mát. Tao thử đếm tràng hạt nhưng sợ nó rớt vì buồn ngủ nên lại quàng nó vào cổ. Quá êm ái và thoải mái nên tao chỉ có việc…”

Anh kể đến đó thì  Ma Hla Aye lại đến múc nước. Khi đi ngang qua chúng tôi, cô dậm mạnh và liếc nhìn Hai Khant. Anh nhìn đuổi theo cô và nói thầm, “Tao muốn tát cái con bé đó,” và rồi cười một mình.
“Kể tiếp đi, Anh Hai Khant ơi,” tôi dục.
“Khi tao chỉ mới chợp mắt thì nghe ai đó bước xuống ao,” anh tiếp tục kể. “Tao nhìn xuống thì thấy con bé ở đó, thì Ma Hla Aye chớ ai nữa, hi hi…”
Anh hút pập pập và cái tẩu kêu rít rít, lấy bàn tay nắm tẩu, xoay cái cán, và sau đó, tháo rời ra.
“Mọi người đều được tắm ở đây? Không phải ao của thiền viện, hở?” tôi hỏi anh.
“Không, đây là cái ao khác, ai cũng tắm được; hôm đó mọi người đi hết nên ao vắng vẻ. Ao lấy nước uống ở gần thiền viện hơn.”
“Được rồi, kể tiếp đi,” tôi nói.
“Tao nhìn xuyên qua lá và thấy hình như nó không mang váy phụ,” anh nói.
“Thiệt vậy, hở? Rồi sao…?”
“À, thì không khó gì, cứ việc từ từ kéo váy lên khi xuống nước, và khi nước đã đến vai thì kéo váy để lên đầu, thế là váy vẫn khô,” anh nói. “Cũng có thể ném nó lên một cành cây. Nó nghĩ không có ai khác nên làm thế và bơi quanh. Tao sợ nó thấy tao nên không dám động đậy, thế nhưng một con kiến lửa cắn chân tao!”
“Chu cha, rắc rối rồi!”
 “Tao cố phủi con kiến đi nhưng không hiểu sao tao bị tuột khỏi cành cây và rơi tỏm xuống nước. Cái xà rông của tao vướng mắc vào cành nên tao trần truồng như nhộng.”
Tôi cười to. “Rắc rối rồi! Rắc rối rồi!”
“Đúng vậy, tao gặp rắc rối rồi. Nó đứng yên không nhúc nhích và tao cũng không thể lội lên bờ.”
“Rốt cục thì anh làm sao?”
“Trời ơi… Tao biểu nó hụp đầu xuống nước để tao trèo lên lấy xà rông nhưng nó nói không thể nín thở lâu được. Tao nói tao sẽ hụp đầu xuống nước khi nó lấy váy thì nó không tin tao không nhìn. Thực ra thì tao không muốn hụp đầu xuống nước tí nào, mầy biết chứ?”
“Vậy anh làm gì?”
“Lúc ấy tao nghe tiếng sư la mắng mấy đứa nhỏ và tao sợ sư đến và bắt gặp…”
Anh lại tỉ mỉ đốt tẩu.
 “Thế rồi nó bắt đầu tố tao trèo lên cây để xem nó tắm, dù tao nói là tao đến trước. Cái con bé đó hét vào mặt tao, dù tao cố giải thích mấy nó cũng không chịu, và tao đành đứng dầm nước với cái tràng hạt quanh cổ. Tao muốn cười nhưng không dám. Tao không biết làm sao để lấy áo và xà rông mới của tao và khi tao định quay đi để nó lấy váy của nó thì nó hét biểu tao đứng yên … thế nên tao chẳng dám động đậy.”

Câu chuyện đến đây thì Ma Hla Aye trở lại với chum nước đầy trên đầu. Tôi không nghĩ rằng cô ấy biết chúng tôi đang nói chuyện gì nhưng tôi buồn cười đến nỗi phải quay mặt đi và cười thầm. Ngay lập tức một màn gây gổ nổ ra giữa hai người.
“Hoàn toàn không, bọn mình đang nói chuyện khác.”  Hai Khant chống chế khi cô ấy buộc tội anh.
“Anh thề đi!. Anh thề cái gì sẽ bị cái đó!  Anh sẽ bị rắn cắn và sét đánh!” Ma Hla Aye hét to.
Ma Hla Aye nhờ trang điểm bằng bột Thanakha (4) nên trông khá xinh. Cô bối rối đến nỗi trượt chân và để chum nước rơi khỏi đầu. Cô nổi điên và bắt đầu ném mảnh chum vào chúng tôi khiến chúng tôi phải bỏ chạy.

Ngay khi chúng tôi về đến nhà, dì tôi cho tôi xem lá thư của mẹ tôi nói tôi phải về nhà ngay vì vợ chồng bác tôi từ Mandalay đã đến.
Tôi vội vàng bỏ đồ vào ba lô và lập tức đến ga xe lửa cách đó 5 dặm. Tôi muốn nhờ Hai Khant chở tôi đến ga bằng xe lôi để nghe anh kể nốt câu
chuyện nhưng anh nói “để sau”,  thế nên tôi rời làng mà chưa được thỏa mãn lắm. Sau đó, tôi không gặp lại anh. Mãi cho đến năm ngoái, khi anh có việc phải lên phố, tôi hỏi anh, “Làm ơn cho em biết anh đã ra khỏi ao bằng cách nào?” khi anh đang nói chuyện với ba mẹ tôi nên anh chỉ mỉm cười và nói, “Còn nhớ chuyện đó, hở? Kỷ niệm đẹp lắm đó!” rồi chẳng nói gì thêm. 

Với tôi, câu chuyện anh Hai Khant và cô Ma Hla Maye đứng trong nước vẫn còn dang dở và nếu tôi có chết thì không phải là một cái chết dễ dàng.

Htin Lin
Nguyễn Khắc Phước (dịch).

***
Nguồn: Tên truyện: Pleasant Pond trên trang web: Things Myanmar.