Thứ Năm, 23 tháng 9, 2021

TRÁI TIM CỦA THỎ RỪNG - Truyện cổ Poland (Ba-lan) của John Theophilus Naaké

 




Truyện cổ Poland (Ba-lan)

 

TRÁI TIM CỦA THỎ RỪNG

 

Tác giả: John Theophilus Naaké

 

Ngày xửa ngày xưa, trên một hòn đảo giữa sông Vistula có một lâu đài lớn, có tường bao quanh. Ở mỗi góc là một ngọn tháp cao, trên đó có cắm cờ, và có những lính canh khỏe mạnh canh giữ. Một cây cầu bằng da, được treo trên dây xích, nối với hòn đảo đến bờ sông.

 

Trong lâu đài này có một hiệp sĩ giàu có và dũng cảm. Bất cứ khi nào tiếng kèn vang lên qua cổng vào, đó là dấu hiệu chắc chắn rằng hiệp sĩ đã chiến thắng trở về và mang theo chiến lợi phẩm quý giá bên mình.

 

 

Trong các ngục tối sâu và tối của lâu đài, nhiều tù nhân bị giam giữ, những người này được dẫn ra ngoài hàng ngày để làm việc. Họ buộc phải sửa chữa các bức tường, và đào bới trong vườn. Trong số đó có một bà lão và chồng bà. Bà lão là một phù thủy, và bà quyết tâm trả thù cho chính mình vì những đau khổ của họ mà hiệp sĩ đã gây ra; bà chỉ chờ cơ hội khi chàng ta một mình.

 

 

Một ngày nọ, chàng hiệp sĩ trở lại lâu đài như thường lệ; mệt mỏi vì rang sức, chàng nằm xuống nghỉ ngơi trên bãi cỏ xanh, và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ say. Mụ phù thủy, người đã theo dõi chàng ta, lặng lẽ đi ra từ nơi ẩn náu, và rắc một ít hạt anh túc lên mắt hiếp sĩ để khiến chàng ngủ ngon hơn. Sau đó, mụ dùng một cành cây dương đánh chàng vào bên ngực nơi trái tim của chàng. Ngực của hiệp sĩ ngay lập tức được mở ra, và mụ phù thủy độc ác có thể nhìn thấy trái tim dũng cảm của chàng đang lặng lẽ đập. Mụ phù thủy độc ác cười khúc khích thích thú, và với những ngón tay xương xẩu và móng tay dài, mụ lấy trái tim khéo léo đến nỗi chàng hiệp sĩ tội nghiệp không tỉnh giấc. Sau đó, mụ đặt vào vị trí của nó trái tim của một con thỏ rừng, đóng chỗ ngực mở, ẩn mình giữa những bụi cây rậm rạp, và hăm hở chờ đợi kết quả của sự gian ác của mình.

 

 

Trước khi chàng hiệp sĩ tỉnh hẳn, chàng bắt đầu cảm thấy trái tim rụt rè của mình. Chàng hiệp sĩ, người đã từng không biết sợ hãi là gì, giờ đây run rẩy và trằn trọc cơ thể trong giấc ngủ. Cuối cùng thì chàng cũng mở mắt ra. Áo khoác của chàng trở nên quá nặng. Ngay khi thức dậy, chàng kinh hoàng nghe thấy tiếng chó sủa. Trước đây chàng thích lắng nghe tiếng khóc của chúng; bây giờ, khiếp sợ, chàng bỏ chạy như một con thỏ rừng nhút nhát. Khi chạy trốn về phòng của mình, tiếng kêu lách cách của vũ khí và đinh thúc ngựa của chính chàng làm chàng hoảng sợ đến mức chàng ném chúng đi; và, gần như kiệt sức vì kinh hãi, chàng gục xuống giường.

 

Đây thường là lúc hiệp sĩ chỉ mơ về những trận chiến và chiến lợi phẩm dồi dào; bây giờ chàng rên rỉ vì sợ hãi trong giấc ngủ của mình. Trước tiếng chó sủa, hay tiếng kêu cứu của binh lính, những người canh giữ lâu đài trên tháp cao, chàng run rẩy như một đứa trẻ, và gục mặt vào gối.

 

Sau một thời gian, kẻ thù của hiệp sĩ đã bao vây lâu đài của anh ta. Các sĩ quan và binh sĩ chờ đợi người chỉ huy của họ, người đã từng dẫn dắt họ ra trận và chiến thắng; nhưng họ đã chờ đợi trong vô vọng. Chàng ta, một hiệp sĩ dũng cảm, khi nghe thấy tiếng lạch cạch của vũ khí, tiếng giẫm đạp của ngựa và tiếng ồn ào của con người, đã chạy trốn lên chính đỉnh lâu đài của mình, từ đó chàng có thể nhìn thấy vô số lực lượng của kẻ thù. Ở đó, chàng nhớ lại những trận đánh trước đây của mình, những chiến công và vinh quang của tên mình. Chàng khóc lóc thảm thiết, và gọi lớn:

 

 

-“Ôi, Chúa ơi! cho tôi can đảm! Cho tôi sức khỏe và sức mạnh! Binh lính trung thành của tôi đang ở trong chiến trường, và tôi, thủ lĩnh của họ, người đã từng ra trận với họ, bây giờ, than ôi! như một thiếu nữ rụt rè, nhìn xuống họ từ bức tường lâu đài của tôi. Cho tôi một trái tim không sợ hãi! Cho tôi sức mạnh để gánh đôi tay của tôi! Hãy khôi phục lại con người cũ của tôi, và mang đến cho tôi chiến thắng!”

 

 

Những hồi ức về quá khứ đã đánh thức chàng như thể đang ở trong một giấc mơ. Chàng vội vàng về phòng, mặc áo giáp, lên ngựa và phi nước đại qua cổng. Những người lính gác đã hân hoan chào đón anh, và thổi kèn để thông báo sự xuất hiện của chàng. Chàng vội vàng bước tiếp, nhưng nỗi sợ hãi đang hiện hữu trong trái tim và tâm trí chàng. Khi đạo quân can đảm phá  vở vòng vây của kẻ thù, vị tướng kinh hãi, quay đầu ngựa, bay về thành. Dù được che chở sau những bức tường dày, nhưng nỗi sợ hãi vẫn chưa rời bỏ chàng. Hiệp sĩ xuống ngựa, chạy vào hầm sâu nhất, và ở đó, ngất đi, chờ đợi một cái chết chẳng vinh quang gì. Tuy nhiên, quân đội của chàng đã chiến thắng, và tiếng kèn ở các tòa tháp đã hân hoan báo tin.

 

Những người lính của chàng rất ngạc nhiên về hành vi hèn nhát của người lãnh đạo của họ. Họ tìm kiếm chàng trong một thời gian dài trong vô vọng; cuối cùng họ tìm thấy chàng trong một căn hầm, dở sống dở chết vì sợ hãi và tuyệt vọng.

 

 

Chàng hiệp sĩ bất hạnh không sống được bao lâu. Suốt cả mùa đông, chàng gắng sưởi ấm chân tay run rẩy của mình trước ngọn lửa. Khi mùa xuân đến, chàng mở cửa sổ để có thể hít thở bầu không khí trong lành một chút. Một con nhạn xây tổ ở gần mái nhà, bay ngang qua, đã dùng cánh của nó đập vào đầu chàng ta. Cú đánh định mệnh khiến chàng hiệp sĩ đáng thương ngã xuống như thể bị sét đánh, và ngay sau đó đã chết.

 

 

Chàng đã khiến tất cả những thuộc hạ vô cùng thất vọng. Họ không thể hiểu điều gì đã thay đổi hoàn toàn chủ nhân của họ. Một năm sau, khi một số phù thủy bị thất bại và sắp chết chìm vì cố làm phép để tạnh mưa, một trong số họ đã thú nhận rằng mụ phù thủy đã lấy trái tim của hiệp sĩ ra sao và đã đặt trái tim của một con thỏ vào vị trí đó. Nhờ đó, thuộc hạ của chàng hiểu rằng chàng hiệp sĩ can đảm của họ đã trở thành một kẻ hèn nhát như thế nào. Họ cay đắng khóc cho số phận nghiệt ngã của chủ nhân, và, như một hình phạt, họ đốt xác của mụ phù thủy độc ác trên nấm mồ của chàng.

 

&&&

 

Nguồn: https://fairytalez.com/

Polish Fairy Tales, Folk Tales and Fables

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

TRÁI CÂY QUÝ NHẤT - Truyện cổ Bulgaria - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

 

Tranh của Andrian Bekiarov, Bulgarian 


Trái cây quý nhất

Truyện cổ Bulgaria

(Tác giả khuyết danh)

 

Ngày xửa ngày xưa, có một người cha có ba người con trai. Người cha đã già và ông chỉ muốn chia cho một trong ba người con trai của mình toàn bộ tài sản thừa kế sau khi ông mất, nhưng ông không thể quyết định ai trong số họ xứng đáng nhất. Một ngày nọ, ông gọi họ lại và nói với họ như sau: “Cha sẽ cho các con mỗi đứa một túi vàng. Hãy đi khắp thế giới và tìm một loại trái cây quý giá nhất. Người mang thứ trái cây đó đến cho cha sẽ được cả gia tài của cha.”

 

Các chàng trai cầm tiền và đi ba hướng khác nhau để tìm trái cây. Ba năm trôi qua, cuối cùng những người con trai đã trở về nhà. Đầu tiên, người cha hỏi người con trai cả: "Con mang về cho cha loại trái cây quý giá nhất là gì?"

 

Người con trả lời: “Thưa cha, con tin rằng trái quý nhất phải là trái có vị ngọt nhất. Con đã đến nhiều quốc gia khác nhau để tìm cho cha loại nho trắng. Trong tất cả các loại trái cây trên trái đất, nho trắng là quả ngọt nhất.”

 

“Con trai giỏi lắm,” người cha nói.

 

"Còn con thì sao?" Người cha hỏi khi quay sang đứa con giữa.

 

“Con cho rằng trái cây quý nhất là trái cây khó kiếm nhất nên con lặn lội xuống phía Nam. Con đã tới Châu Phi và mua cho cha những thứ trái cây không thể tìm thấy ở xứ minh. Đây là cam, chà là và chuối. Cha hãy chọn thứ gì cha thích,” đứa con giữa trả lời.

 

“Con trai giỏi lắm. Cha sẽ lấy một thứ,” người cha trả lời.

 

Sau đó ông quay sang người con trai út. “Con đã mang gì cho cha? Tại sao con không có thứ gì cả?" người cha hỏi.

 

Người con trai út nói: “Đúng là con đến với hai bàn tay trắng, và con đã không tiêu số vàng mà  cha đã cho con để mua trái cây để biếu cha. Con đến trường với thầy cô và sách. Họ đã dạy con trong ba năm. Con tin rằng đây là loại trái cây quý giá nhất.”

 

Nghe những lời này, người cha vui mừng nói: “Con đã mang đến cho cha thứ trái quý nhất. Con xứng đáng được thừa kế nhất bởi vì không có thứ trái nào quý hơn thứ trái mang kiến thức cho con người.”

 

 

Nguồn: fairytalez.com

Bulgarian Fairy Tales, Folk Tales and Fables.

 



Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021

CHIẾC GHẾ ĐẨU CỦA NGƯỜI THỢ RÈN - Chuyện cổ Czechoslovakia (Tiệp Khắc)

 

Miền quê ở Tiệp Khắc.

Chuyện cổ Czechoslovakia (Tiệp Khắc)

CHIẾC GHẾ ĐẨU CỦA NGƯỜI THỢ RÈN

Chuyện về một người thấy cái chết là cần thiết

 

Tác giả: Parker Fillmore

 

 Ngày xửa ngày xưa, khi Chúa Giê-su và thánh Peter đi  cùng nhau trên thế gian, một buổi tối nọ, họ dừng lại ở nhà của một bác thợ rèn và xin ở nhờ qua đêm.

 

“Không có chi,” người thợ rèn nói. "Tôi là người nghèo nhưng bất cứ điều gì tôi có, tôi sẽ sẵn lòng chia sẻ với quý Thầy."

 

Bác đặt chiếc búa xuống và dẫn khách vào bếp. Ở đó, bác chiêu đãi họ một bữa tối ngon lành và sau khi họ ăn xong, bác nói với họ:

 

“Tôi thấy rằng hai Thầy đã rất mệt mỏi sau cuộc hành trình trong ngày của mình. Đây là giường của tôi. Nằm xuống nó và ngủ một giấc đến sáng.”

 

"Vâỵ anh sẽ ngủ ở đâu?" Thánh Peter hỏi.

 

"Tôi ư? Đừng nghĩ về tôi,” người thợ rèn nói. "Tôi sẽ ra nhà kho và ngủ trên đống rơm."

 

Sáng hôm sau, người thợ rèn  đãi hai vị khách một bữa sáng hảo hạng, và sau đó chúc họ  một chuyến hành trình tốt đẹp.

 

Khi họ rời đi, Thánh Peter khều vào áo choàng lấy Chúa Giê-su và thì thầm:

 

“Thưa Thầy, Thầy không định thưởng cho người đàn ông này sao? Anh ấy nghèo nhưng vẫn đối xử rất hiếu khách với chúng ta."

 

Chúa Giê-su trả lời Thánh Peter:

 

“Phần thưởng của thế giới này là phần thưởng trống rỗng. Ta đang nghĩ sẽ chuẩn bị cho anh ấy một chỗ trên thiên đường. Tuy nhiên, ta sẽ cấp cho anh ta một thứ gì đó ngay bây giờ.”

 

Sau đó, Ngài quay sang người thợ rèn và nói:

  

“Anh dự định sẽ làm gì? Hãy trình bày ba điều ước và chúng sẽ được thực hiện.”

 

Người thợ rèn vui mừng khôn xiết. Với điều ước đầu tiên của mình, bác ấy nói:

 

"Tôi muốn sống lâu trăm tuổi và luôn mạnh mẽ  như tôi ở thời điểm này."

 

Chúa Jêsus phán:

 

“Rất tốt, điều đó sẽ được cấp cho anh. Điều ước thứ hai của anh là gì? ”

 

Người thợ rèn suy nghĩ một lúc. Sau đó bác nói:

 

“Tôi ước rằng tôi được thịnh vượng và luôn có những thứ tôi cần. Cầu mong công việc ở cửa hàng của tôi luôn dồi dào như ngày hôm nay.”

 

“Điều này cũng sẽ được ban cho anh,” Chúa Giêsu nói. "Bây giờ hãy nói điều ước thứ ba của anh."

 

Người thợ rèn suy nghĩ hồi lâu, đầu tiên không thể quyết định điều ước thứ ba. Cuối cùng bác ấy nói:

 

“Xin cho rằng bất cứ ai ngồi trên chiếc ghế đẩu nơi Thầy đã ngồi vào tối qua không thể đứng dậy cho đến khi tôi thả người đó ra.”

 

Thánh Peter bật cười về điều này, nhưng Chúa Giê-su gật đầu và nói:

 

"Ước muốn này cũng sẽ được thực hiện."

 

Thế là họ chia tay nhau, Chúa Giêsu và Thánh Peter tiếp tục lên đường, và người thợ rèn trở về lò rèn của mình.

 

Mọi việc đã xảy ra như Chúa Jêsus đã hứa với họ. Nhiều công việc đổ vào cửa hàng thợ rèn. Năm tháng trôi qua nhưng không để lại dấu ấn gì đối với người thợ rèn. Bác vẫn trẻ trung và đầy sức sống như ngày nào. Bạn bè của bác già đi và lần lượt từng người qua đời. Các con của bác đã lớn, lập gia đình và có con riêng. Chúng lần lượt lớn lên. Năm tháng mang đến tuổi trẻ và sự trưởng thành, già dặn cho tất cả con cháu bác. Riêng người thợ rèn vẫn không thay đổi.

 

Một trăm năm là một thời gian dài nhưng cuối cùng thì nó cũng kết thúc.

 

Một đêm khi người thợ rèn đang cất công cụ của mình thì có tiếng gõ cửa. Người thợ rèn dừng tiếng hát của mình để gọi:

 

"Ai đó?"

 

“Chính là tôi, Thần chết,” một giọng nói trả lời. “Mở cửa đi, thợ rèn. Thời của bạn đã đến."

 

Người thợ rèn mở tung cánh cửa.

 

“Mời vào,” lão nói với người phụ nữ đang đứng đó. “Tôi sẽ sẵn sàng trong giây lát sau khi cất công cụ của mình.” lão mỉm cười một mình. “Mời bà ngồi xuống chiếc ghế đẩu kia, và nghỉ ngơi một lát được không, thưa bà? Bà hẵn phải mệt mỏi khi đi lại trên thế gian.”

 

Thần chết, không nghi ngờ gì, ngồi xuống ghế đẩu.

 

Người thợ rèn phá lên cười sảng khoái.

 

“Bây giờ tôi đã có bà, thưa phu nhân! Hãy ở yên đó cho đến khi tôi trả tự do cho bà!”

 

Tử thần cố gắng đứng dậy nhưng không được. Bà ấy vặn vẹo thế này, thế kia. Xương rỗng của bà kêu răng rác. Bà nghiến răng. Nhưng làm gì bà cũng không thể nhấc mình lên khỏi ghế đẩu được.

 

Cười khúc khích và hát, người thợ rèn để bà ở đó và bắt đầu công việc kinh doanh của mình.

 

Nhưng ngay sau đó lão phát hiện ra rằng việc xích Thần chết vào ghế đã có kết quả bất ngờ. Để bắt đầu, lão muốn ngay lập tức ăn mừng cuộc vượt thoát của mình bằng một bữa tiệc. Lão có một con lợn đã được vỗ béo một thời gian. Lão sẽ giết con lợn này và băm nhỏ thành xúc xích cay hảo hạng để hàng xóm và bạn bè của lão sẽ đến ăn. Giăm bông sẽ được treo trong ống khói.

 

Nhưng khi lão cố gắng giết con vật, đòn rìu của lão không có tác dụng gì. Lão đập vào đầu con lợn và để chắc chắn, lăn lộn nó trên mặt đất. Nhưng khi lão dừng lại để cắt cổ họng, con vật nhảy lên, kêu một tiếng rồi biến mất trước khi người thợ rèn kịp hoàn hồn.

 

Tiếp theo, lão cố giết một con ngỗng mà lão đã vỗ béo để chuẩn bị cho hội chợ làng.

 

“Không có xúc xích thịt lợn, ta sẽ phải hài lòng với món ngỗng quay,” lão nói.

 

 

Nhưng khi lão thợ rèn cố gắng cắt cổ con ngỗng, chẳng thấy tý máu nào bén dao. Ngạc nhiên, lão nới lỏng tay và con ngỗng tuột khỏi tay lão và ngoe nguẩy đuổi theo con lợn.

 

"Hôm nay sao lạ lùng vậy kìa?" người thợ rèn tự hỏi mình. “Có vẻ như mình không được ăn xúc xích hay ngỗng quay. Có lẽ mình sẽ phải hài lòng với một cặp chim bồ câu."

 

Lão đi ra chuồng bồ câu và bắt được hai con. Lão đặt  chúng trên cái thớt và với một nhát rìu mạnh mẽ, lão đã cắt đứt đầu cả hai.

 

“Vậy là xong!" lão la to mừng chiến thắng. "Tao đã có chúng mày rồi nhé!"

 

 

Nhưng ngay khi lão nói, những cái đầu nhỏ bé bị cắt rời và cơ thể dính lại với nhau như thể không có chuyện gì xảy ra, và hai con chim bồ câu vui vẻ bay đi.

 

Cuối cùng thì sự thật cũng lóe lên trong tâm trí người thợ rèn. Chừng nào lão còn giữ Thần chết gắn chặt vào cái ghế đẩu đó thì không gì có thể chết được! Chắc chắn là không! Vì vậy, không có xúc xích cay, không có dăm bông hun khói, không có ngỗng quay - thậm chí một con chim bồ câu nướng cũng không! Trước mắt không phải là một viễn cảnh đẹp đẽ, vì người thợ rèn thích những thứ ngon để ăn. nhưng lão có thể làm được gì cơ chứ? Giải phóng Tử thần? Không bao giờ! Lão sẽ là nạn nhân đầu tiên của bà ta! Vậy thì, nếu không thể có thịt tươi, lão sẽ phải bằng lòng với đậu Hà Lan, cháo và bánh mì.

 

Đây thực sự là những gì lão và mọi người khác phải làm khi nguồn cung cấp cũ của họ đã cạn kiệt.

 

Mùa hè trôi qua và mùa đông theo sau. Rồi mùa xuân đến mang theo những khổ nạn mới không lường trước được. Với thời tiết ấm áp, tất cả các loài gây hại và côn trùng của mùa hè trước lại hồi sinh, vì không một con nào đã bị giết bởi cái lạnh mùa đông. Và tất cả trứng mà chúng đã đẻ đều nở ra cho đến khi trái đất, không khí và nước tràn ngập các sinh vật sống. Chim, chuột và châu chấu, côn trùng và sâu bọ đủ loại bao phủ các cánh đồng và ăn hết mọi thứ xanh tươi. Những đồng cỏ trông như thể có một vụ cháy đã quét sạch chúng. Những vườn cây ăn trái trơ cành, chẳng có lá và hoa.

 

Những đàn cá, ếch nhái và các sinh vật nước tràn ngập các hồ và sông khiến nước bị ô nhiễm và con người không thể uống được.

 

Nước và đất đều tràn ngập những sinh vật sống mà không một sinh vật nào có thể bị giết. Ngay cả không khí cũng dày đặc những đám mây muỗi và ruồi nhặng.

 

Những người đàn ông và phụ nữ bước đi trông như những bóng ma thiểu não. Họ không muốn sống nhưng họ phải sống tiếp vì họ không thể chết.

 

Cuối cùng thì người thợ rèn cũng nhận ra tất cả sự khốn cùng mà ước muốn ngu ngốc của lão đang mang lại cho thế giới.

 

“Bây giờ tôi hiểu rồi,” lão nói, “Đức Chúa Trời Toàn năng đã làm rất tốt khi Ngài gửi Thần chết đến thế giới. Bà ấy có việc phải làm và tôi đã sai khi giam bà ấy làm tù nhân.”

 

Vì vậy, lão thả Thần chết ra khỏi cái ghế đẩu và không la lên tiếng nào khi bà ta đưa những ngón tay xương xẩu của mình vào cổ họng lão.

 

Nguồn: fairytalez.com

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2021

Truyện cổ tích Armenia: BÀ LÃO VÀ CON MÈO - Nguyễn Khắc Phước kể.

 

Tàn tích của Đền Zvartnots với hình nền là núi Ararat ở Armenia.  
Ảnh từ: thecourier.com.au

Truyện cổ tích Armenia

BÀ LÃO VÀ CON MÈO

Tác giả: A. G. Seklemian, người Armenia


 

Ngày xưa một bà lão có một con dê cái. Hằng ngày bà vắt sữa dê và giữ sữa trong tủ nhưng một con mèo ranh mãnh đến liếm hết sữa. Nhiều lần như thế nhưng bà không bắt được mèo. Tuy nhiên, một ngày nọ, bà lão đã bắt được mèo và trừng phạt bằng cách cắt đuôi nó rồi thả nó đi.

 

"Meo! meo!" con mèo kêu; "Cho tôi xin lại cái đuôi của tôi!"

 

“Mang sữa của ta lại đây thì ta sẽ trả cho mầy cái đuôi.” bà già nói.

 

Mèo tìm đến dê và nói: “Này chị dê tốt bụng, hãy cho tôi một ít sữa! Tôi sẽ đưa nó cho bà già và lấy lại cái đuôi của tôi.”

 

Dê trả lời: “Hãy mang cho tôi một ít nhánh từ cái cây đằng kia, và tôi sẽ cho bạn sữa.”

 

Con mèo đi đến cái cây và nói, "Hỡi cây tốt bụng ơi, hãy cho tôi một ít nhánh! Tôi sẽ mang nhánh đến cho chị dê để đổi lấy một ít sữa đưa cho bà lão, và lấy lại cái đuôi.”

 

“Mang cho tôi một ít nước và tôi sẽ cho bạn một ít nhánh.” cái cây trả lời.

 

Con mèo đến chỗ người gánh nước và nói: “Chị gánh nước nhân từ ơi, cho tôi một ít nước! Tôi sẽ mang nước đến cái cây kia và lấy vài nhánh cây cho chị dê rồi chị dê cho một ít sữa, mang cho bà già để lấy cái đuôi của tôi.”

 

“Hãy mang cho ta một đôi giày và ta sẽ cho mày một ít nước,” người gánh nước nói.

 

Con mèo đến chỗ người thợ đóng giày và nói, “Bác thợ giày rộng lượng ơi, hãy cho con một đôi giày! Con sẽ đưa cho người gánh nước, người ấy sẽ cho con một ít nước; con sẽ mang nước đến cho cây và lấy một ít nhánh cho chị dê; chị dê sẽ cho con một ít sữa, và con sẽ mang sữa cho bà già để lấy đuôi của con.”

 

“Hãy mang cho ta một quả trứng và ta sẽ cho mày một đôi giày,” người thợ đóng giày trả lời.

 

Con mèo đi đến chỗ con gà mái và nói, “Chị gà mái ngoan hiền ơi!  Hãy đẻ cho tôi một quả trứng! Tôi sẽ mang nó cho người đánh giày và lấy một đôi giày cho người gánh nước; chị ta sẽ cho tôi một ít nước, tôi sẽ mang đến gốc cây và lấy một nhánh cây cho chị dê; chị ấy sẽ cho tôi một ít sữa, mà tôi sẽ đưa sữa cho bà già và lấy đuôi của tôi.”

 

“Hãy mang cho tôi một ít lúa mạch thì tôi sẽ đẻ một quả trứng cho bạn,” con gà mái trả lời.

 

Con mèo đi đến cái máy đập lúa và nói, "Anh đập lúa tử tế ơi, cho tôi một ít lúa mạch!"

 

Máy đập lúa nói: "Kia kìa, bạn có thể thu nhặt lúa mạch rải rác mà chủ nhân tốt bụng của tôi đã để lại làm thức ăn cho chim và kiến."

 

Mèo nhặt lúa mạch và đưa cho chị gà mái, chị đẻ cho nó một quả trứng. Mèo mang quả trứng cho người thợ giày và nhận được một đôi giày. Nó mang đôi giày đến người gánh nước và lấy một thùng nước tưới cho cây. Cái cây cho nó một ít nhánh cây và nó mang nhánh cây cho chị dê. Dê cho nó một ít sữa và nó mang cho bà lão.

 

Bà lão nói: “Đây là cái đuôi của mày, từ rày về sau đừng lấy trộm sữa của ta nữa.”

 

Con mèo lấy đuôi của mình và cố gắng gắn vào vị trí cũ nhưng nó không làm đươc. Nó thử  dán lại bằng nhựa thông, bằng hắc ín và bằng keo, nhưng đều vô ích. Vì vậy, con mèo đó vẫn cụt đuôi cho đến ngày nay, như một dấu hiệu cho thấy nó  là một tên trộm.

 

Nguyễn Khắc Phước kể theo: fairytalez.com

Armenian Fairy Tales, Folk Tales and Fables 

_________________



Thứ Hai, 13 tháng 9, 2021

Truyện cổ Pakistan: VỢ CHỒNG NGƯỜI NÔNG DÂN VÀ CÁNH CỬA MỞ | VUA VÀ CÁC CÔNG CHÚA | CHÓ RỪNG DÍNH THUỐC NHUỘM

 

Cảnh nông thôn ở Punjab, Pakistan


VỢ CHỒNG NGƯỜI NÔNG DÂN 

VÀ CÁNH CỬA MỞ 


Tác giả: Rev. Charles Swynnerton

 

Ngày xửa ngày xưa, một người nông dân nghèo và vợ anh ta, sau khi kết thúc ngày lao động và ăn bữa tối thanh đạm, đang ngồi bên đống lửa. Vào lúc đó, một cuộc tranh cãi nảy sinh giữa họ về việc ai nên đóng cánh cửa trước đó đã bị một cơn gió mạnh thổi tung. 

"Này bà, đóng cửa lại!" người chồng nói. 

"Thì ông tự đóng đi!" người vợ nói. 

"Tôi sẽ không đóng cửa, và bà cũng không," người chồng nói; "Nhưng ai nói từ đầu tiên, người đó sẽ đóng cửa lại." 

Đề nghị này làm người vợ vô cùng hài lòng, và vì vậy, cặp vợ chồng già yên lặng đi ngủ. 

Vào giữa đêm, họ nghe thấy một tiếng động, và nhìn ra, họ thấy một con chó hoang đã vào phòng và đang tìm cách mở kho thức ăn nhỏ của họ. Tuy nhiên, những người ngớ ngẩn này không thốt ra một lời nào, và con chó, đã đánh hơi mọi thứ, ăn thỏa thích, rồi đi ra khỏi nhà. 

Sáng hôm sau, người phụ nữ mang một ít ngũ cốc sang nhà một người hàng xóm để xay thành bột. 

Khi bà vợ vắng mặt, người thợ cắt tóc bước vào và nói với người chồng: "Sao mà anh ngồi đăm chiêu một mình vậy?" 

Người nông dân không trả lời. Người thợ cắt tóc bắt đầu cạo đầu, nhưng người nông dân vẫn không nói; sau đó anh ta cạo đi một nửa bộ râu và một nửa bộ ria mép, nhưng ngay cả khi đó người chủ nhà vẫn cố gắng không thốt ra một lời nào. Sau đó, người thợ cắt tóc phủ lên người anh ta một lớp sơn đen muội đèn gớm ghiếc, nhưng người nông dân rắn rỏi vẫn nín như câm. 

"Ông này bị ai bỏ bùa mê rồi!" Người thợ cắt tóc kêu lên, và vội vã rời khỏi nhà. 

Người chồng vẫn còn ngồi đó khi người vợ trở về từ nhà hàng xóm. Khi nhìn thấy chồng mình trong bộ dạng khủng khiếp như vậy, bà bắt đầu run rẩy, và kêu lên: “A! Khốn khổ, ông đã làm gì vậy?" 

Người chồng nói: “Bà đã nói lời đầu tiên, vậy thì hãy đóng cửa lại.” 

 

VUA VÀ CÁC CÔNG CHÚA 

Tác giả: Rev. Charles Swynnerton

 

Xưa có một vị vua có nhiều cô con gái. Ông hỏi cô công chúa lớn nhất:  "Hoàng nhi yêu Trẫm như thế nào?" 

"Nhi thần yêu phụ vương như đường," cô ấy nói. 

Tiếp theo, ông hỏi cô con gái thứ hai: "Hoàng nhi yêu Trẫm thế nào?" 

"Nhi thần yêu phụ vương như mật ong," cô ấy nói. 

Đến cô thứ ba, nhà vua hỏi: "Hoàng nhi yêu Trẫm thế nào?" 

Cô ấy nói: “Nhi thần yêu phụ vương như rượu bia.” 

Đến người cuối cùng và cũng là người trẻ nhất, nhà vua hỏi: "Hoàng nhi yêu Trẫm như thế nào?" 

"Nhi thần yêu phụ vương như muối," cô ấy nói. 

Khi nghe câu trả lời của cô con gái út, nhà vua cau mày, và khi cô ấy vẫn tiếp tục lặp lại câu trả lời đó, ông đuổi cô ấy vào rừng. 

Ở đó, khi đang buồn bã lang thang, cô nghe thấy tiếng ngựa chạy, và cô ẩn mình trong một cái cây rỗng. Nhưng chiếc váy của cô tung bay khiến người cưỡi ngựa nhìn thấy, và may mắn, người đó là một hoàng tử của lân quốc. Ngay lập tức, người ấy yêu cô và kết hôn với cô. 

Một thời gian sau, nhà vua, cha cô, người không biết chuyện gì đã xảy ra với cô, đã tìm đến thăm nhà chồng cô. Khi đầu bếp đang nấu nướng, công chúa chăm sóc tất cả các món ăn được dọn cho cha phải là đồ ngọt, thế nhưng khi dọn lên, nhà vua chỉ chuyển qua hoặc chỉ nếm thử mặc dù ông đang rất đói và đang cần thứ gì đó có thể ăn được.  Chỉ còn một món cuối cùng là đĩa rau bina thông thường, nêm với muối, như nông dân ăn, và nhà vua  bằng lòng  và ăn nó một cách ngon lành. 

Bấy giờ, công chúa vén mạng che mặt, để lộ ra trước mặt cha và nói: “Hỡi phụ vương, nhi thần yêu phụ vương như muối; Tình yêu của nhi thần  có thể đơn giản, nhưng chân thật và lâu dài, và nhi thần cầu xin sự tha thứ của phụ vương." 

Sau đó, nhà vua nhận ra mình đã phạm sai lầm lớn như thế nào, và đã giảng hòa hoàn toàn với con gái. 

 

CHÓ RỪNG DÍNH THUỐC NHUỘM 

Tác giả: Rev. Charles Swynnerton

 

Một con chó rừng bị rơi vào một cái bình lớn chứa đầy thuốc nhuộm. Khi trở về nhà, tất cả bạn bè của nó đều ngạc nhiên nói: 

"Chuyện gì đã xảy ra với bạn vậy?" 

Nó vểnh đuôi và trả lời: “Có ai trên thế gian này gặp may như tao không? Hãy nhìn tao đây! Đừng ai gọi tao là 'chó rừng' nữa nhé." 

"Vậy thì bạn muốn được gọi là gì?" các bạn hỏi. 

 "Công," từ đây tụi bây cứ gọi tao là Công,” chó rừng đáp, dạo lui, dạo tới, tỏ ra hãnh diện lắm. 

Những bạn của nó nói, “Nhưng một con công có thể xòe đuôi  đẹp lộng lẫy. Bạn có thể xòe đuôi ra không?” 

“Chà, không, tao không thể làm được điều đó,” chó rừng trả lời. 

Họ tiếp tục: “Và một con công có thể tạo ra tiếng kêu nhẹ nhàng du dương. Bạn có thể tạo ra tiếng kêu du dương hay không? ” 

Chó rừng nói: “Cái đó thì tao cũng chịu luôn.” 

Các bạn vặn lại: “Vậy rõ ràng nếu bạn không phải là chó rừng, thì bạn cũng không phải là công.” 

Và chúng đuổi nó ra khỏi nhóm bạn

 

Nguồn: fairytalez.com

Pakistani Fairy Tales, Folk Tales and Fables.