Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

Truyện cổ tích Do Thái - CHÀNG TIÊN ÉCH

 



Truyện cổ tích Do Thái

 

CHÀNG TIÊN ÉCH

 

Tác giả: Gertrude Landa

 

 

Ngày xưa, có một người đàn ông học thức và giàu có, người đó có một người con trai duy nhất tên là Hanina,  đã lớn và đã lập gia đình. Ông gửi tin nhắn con về gặp cha mẹ ngay lập tức. Hanina nghe theo, và phát hiện ra cả cha và mẹ của mình đang nằm ốm.

 

“Này con trai,” ông già nói, “cha mẹ sắp chết. Đừng buồn, vì chuyện ấy đã được sắp đặt rồi. Cha mẹ là bạn đồng hành trong suốt cuộc đời, và nay có đặc ân là được rời khỏi thế giới này cùng nhau. Con sẽ để tang cho cha mẹ trong bảy ngày theo thông lệ. Thời gian để tang sẽ kết thúc vào đêm trước của lễ Lễ Vượt qua. Vào ngày đó, hãy đi vào khu chợ và mua thứ đầu tiên người ta mời, bất kể nó là gì, và bất kể giá nào mà người ta yêu cầu. Tất nhiên, nó sẽ mang lại may mắn cho con. Hỡi con trai của ta, hãy nghe lời ta nói, và tất cả sẽ tốt."

 

Hanina hứa sẽ tuân theo mệnh lệnh kỳ lạ này của cha mình, và các sự kiện tiếp theo đã xảy ra theo đúng dự đoán của ông già. Đôi vợ chồng già chết cùng ngày, được chôn cất cùng nhau và sau một tuần để tang, vào ngày trước lễ hội Vượt qua, Hanina đi đến chợ và tự hỏi chuyến phiêu lưu nào dành cho mình đây.

 

Anh vừa mới bước vào khu chợ, nơi bày bán đủ mọi thứ hàng, thì một ông già đến gần anh, mang theo một chiếc hộp bằng bạc có kiểu dáng kỳ lạ.

 

 

“Hãy mua cái này, con trai,” ông nói, “và nó sẽ mang lại may mắn cho anh.”

 

"Nó chứa gì?" Hanina hỏi.

 

"Điều đó có lẽ ta sẽ không cho anh biết," ông trả lời. “Quả thực ta không thể, vì ta không biết. Chỉ người mua mới có thể mở nó trong bữa tiệc bắt đầu Lễ Vượt Qua.”

 

Đương nhiên, những lời ông già nói làm Hanina rất hồi hộp vì mọi chuyện đang xảy ra đang đúng như những gì cha anh đã báo trước.

 

"Giá bao nhiêu?" anh ấy hỏi.

 

"Một nghìn miếng vàng."

 

“Hãy mua cái này, con trai,” ông nói, “và nó sẽ mang lại may mắn cho anh.”

 

"Nó chứa gì?" Hanina hỏi.

 

"Điều đó có lẽ ta không thể cho anh biết đươc," ông già trả lời. “Quả thực ta không thể, vì ta không biết. Chỉ người mua mới có thể mở nó trong bữa tiệc bắt đầu Lễ Vượt Qua.”

 

Đương nhiên, những lời ông già nói làm Hanina rất hồi hộp vì mọi chuyện đang xảy ra đang đúng như những gì cha anh đã báo trước.

 

"Giá bao nhiêu?" anh ấy hỏi.

 

"Một nghìn miếng vàng."

 

Đó là một số tiền khổng lồ, gần bằng toàn bộ số tiền mà anh ta có, nhưng Hanina, nhớ lại lời hứa của mình với cha, đã trả tiền và mang cái hộp về nhà. Nó được đặt trên bàn vào đêm lễ hội Vượt qua bắt đầu. Khi được mở ra, bên trong có một hộp nhỏ hơn. Khi mở hộp nhỏ, bên trong là một con ếch.

 

Vợ của Hanina vô cùng thất vọng, nhưng cô ấy đã cho con ếch ăn hết mọi thứ. Sinh vật này ăn nhiều đến nỗi khi Lễ Vượt Qua kết thúc, trong tám ngày, nó đã phát triển đến một kích thước khổng lồ. Hanina đã chế tạo một chiếc tủ cho vật sở hữu kỳ lạ của mình, nhưng nó vẫn tiếp tục phát triển và cần một nhà kho đặc biệt.

 

Hanina vô cùng bối rối, vì con ếch ăn rất phàm ăn nên vợ chồng anh còn rất ít thức ăn cho mình. Nhưng họ không phàn nàn gì, mặc dù những khó khăn của họ tăng lên hàng ngày. Họ buộc phải bán gần như tất cả những gì họ sở hữu để giữ cho ếch được cung cấp thức ăn, và cuối cùng họ bị trở thành nghèo đói thê thảm. Sau đó,  vợ Hanina mất hết sức chịu đựng và cô ấy bắt đầu khóc.

 

Vợ Hanina hết sức ngạc nhiên khi con ếch, lúc này đã lớn hơn cả một người lớn, nói chuyện với cô.

 

"Hãy nghe tôi, vợ của Hanina trung thành," nó nói. “Các ngươi đã đối xử tốt với ta. Vì vậy, hãy cầu xin ta điều các người muốn, và ta sẽ thực hiện các ước muốn của các người.”

 

“Cho chúng tôi thức ăn,” người phụ nữ nức nở.

 

“Kia kìa,” con ếch nói, và ngay lúc đó có tiếng gõ cửa và một giỏ thức ăn khổng lồ được chuyển đến.

 

Hanina chưa nói thì con ếch đã yêu cầu anh nói những điều ước của mình.

 

Hanina nghĩ rằng một con ếch biết nói và thực hiện những điều kỳ diệu phải khôn ngoan và có học thức. "Tôi ước rằng bạn nên dạy cho tôi tất cả những tri thức của con người."

 

Con ếch đồng ý, và phương pháp dạy của nó hết sức kỳ lạ. Nó viết ra Luật và bảy mươi ngôn ngữ trên một tờ giấy và ra lệnh cho Hanina nuốt tờ giấy đó. Hanina  làm như vậy và trở thành người biết được mọi thứ, thậm chí cả ngôn ngữ của dã thú và chim chóc. Tất cả mọi người đều coi anh là nhà hiền triết uyên bác nhất trong thời đại của họ.

 

Một ngày nọ, con ếch lại nói.

 

“Đã đến ngày ta phải đền đáp các bạn vì tất cả lòng tốt mà các bạn đã dành cho ta. Phần thưởng của các bạn sẽ rất lớn. Hãy cùng ta đến khu rừng và các bạn sẽ thấy những điều kỳ diệu xảy ra."

 

Hanina và vợ theo con ếch khổng lồ vào rừng vào một buổi sáng rất sớm. Khi đến khu rừng, con ếch kêu lên bằng giọng réo rắt:

 

“Hỡi tất cả các cư dân trên cây, trong các hang động và suối, hãy đến với ta, và thực hiện yêu cầu của ta. Hãy mang những viên đá quý từ sâu trong lòng đất và rễ cây, thảo mộc”.

 

Sau đó, bắt đầu cuộc diễu hành kì lạ. Hàng trăm con chim bay tới nhảy nhót qua những tán cây; hàng ngàn con côn trùng bò ra từ các lỗ trên mặt đất; và tất cả các động vật trong rừng, từ nhỏ nhất đến quái vật, đều đáp lại tiếng kêu của con ếch. Mỗi nhóm mang theo một số món quà và đặt chúng dưới chân của Hanina và vợ, người đang đứng trong tình trạng cảnh giác. Chẳng bao lâu, một đống lớn đá quý và thảo mộc đã chất trước mặt họ.

 

“Tất cả những thứ này thuộc về bạn,” con ếch nói, chỉ vào những viên ngọc. “Các loại thảo mộc và rễ cây có giá trị ngang nhau và các ngươi có thể dùng để chữa khỏi mọi bệnh tật. Vì các ngươi đã tuân theo ý muốn của người hấp hối và không chất vấn ta, nên bây giờ các ngươi được thưởng."

 

Hanina và vợ cảm ơn con ếch và sau đó Hanina nói: "Cho phép chúng tôi biết bạn là ai?"

 

“Được,” con ếch trả lời. “Ta là con trai tiên của Adam, được ban cho sức mạnh có thể giả dạng bất kỳ hình thức nào. Tạm biệt."

 

Ngay sau khi nói, con ếch bắt đầu nhỏ dần cho đến khi có kích thước bằng một con ếch bình thường. Sau đó, nó nhảy vào một con suối và biến mất và tất cả những  cư dân của khu rừng trở về nơi thường trú của chúng.

 

Hanina và vợ mang tất cả những món đồ quý giá của họ về nhà. Họ trở nên nổi tiếng nhờ sự giàu có, trí tuệ và lòng bác ái của họ, và họ sống trong hạnh phúc với mọi người trong rất nhiều năm.

 

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2021

Truyện cổ nước Bỉ : SỐ PHẬN CỦA NÀNG DÊ

 


Truyện cổ nước Bỉ

SỐ PHẬN CỦA NÀNG DÊ

 

Mùa hè năm ấy nóng ghê lắm. Nhiều tuần không có một giọt mưa  và hạn hán đã xảy ra ở thung lũng nơi các loài động vật sinh sống. Các nguồn nước đã khô cạn và các con suối không còn chảy nữa.  Anh Cáo cầm cái ống điếu và đi dạo dưới những tán cây vôi để suy nghĩ lại mọi chuyện. Ở đó, anh gặp chị Dê đang bận quần áo đẹp ngày Chủ nhật.

 

“Ngày mới tốt lành, cô em họ,” anh nói. "Hôm nay trông cô em xinh lắm."

 

“Đúng vậy,” chị trả lời, “Tôi mặc chiếc váy đẹp nhất của mình vì nó giúp tôi suy nghĩ. Tôi không biết phải làm gì để có nước đây. Chúng tôi đã dùng hết tất cả nước trong thùng, và trừ phi nhanh chóng tìm thấy nước, nếu không thì tôi và các con tôi sẽ chết khát.”

 

Cáo nói: “Nói thật với cô em, tôi cũng đang nghĩ như vậy. Tôi khát đến nỗi lưỡi tôi dính chặt vào vòm miệng, thậm chí tôi không còn thích hút thuốc nữa. Cô nói bọn mình cùng nhau đi tìm nước, phải không?  Tôi sẵn sàng. Bốn mắt tốt hơn hai mắt, bất kỳ ngày nào trong tuần.”

 

“Đồng ý,” Dê nói; và họ bắt đầu cùng nhau đi tìm nguồn nước. Họ mất khá lâu để tìm kiếm khắp nơi nhưng không tìm thấy một chút nước nào. Đột nhiên, Dê kêu lên một tiếng vui sướng. Cáo chạy đến gần nàng và thấy nàng đã phát hiện ra một cái giếng, nàng đang đứng  bên bờ vực nhìn làn nước mát lạnh ở phía dưới.

 

"Hoan hô!" Cáo kêu lên. "Chúng ta được cứu rồi!"

 

“Đúng vậy,” Dê trả lời, “nhưng hãy xem giếng có sâu lắm không! Làm thế nào để chúng ta lấy được nước!"

 

"Cô em cứ để đó cho tôi," Cáo nói. “Giếng thì tôi rành lắm. Tôi đã từng thấy nhiều giếng rồi. Chỉ cần chui vào cái xô treo bằng dây và hạ xuống một cách trơn tru và an toàn như mình muốn. Tôi sẽ xuống trước để chỉ đường cho cô.”

 

Thế là Cáo chui vào cái xô, và sức nặng của anh ta khiến cái xô rơi xuống, trong khi  ở đầu kia của sợi dây là chiếc xô rỗng đang treo trên miệng giếng. Một phút sau anh ta ở phía dưới, nghiêng mình qua thành xô và tham lam uống nước. Chưa bao giờ có gì ngon ngọt hơn. Anh uống và uống cho đến no cành ruột và không uống được nữa.

 

"Nước có tốt không?" Dê từ trên cao kêu lên, có vẻ sốt ruột.

 

"Nó giống như mật hoa tinh khiết nhất!" Cáo trả lời. "Hãy nhanh chóng vào xô, đi xuống và tham gia cùng tôi."

 

Thế là Dê bước vào xô, ngay lập tức, bắt đầu hạ xuống theo trọng lượng của minh, đồng thời cái xô có anh Cáo trong đó bắt đầu trồi. Hai người gặp nhau nửa chặng đường.

 

"Thế này là thế nào?" Dê ngạc nhiên hỏi. "Tôi nghĩ rằng anh sẽ đợi tôi!"

 

“À, cô bạn thân mến của tôi,” Cáo trả lời với nụ cười nham hiểm, “Đời là vậy đó. Kẻ đi lên và người đi xuống. Tôi hy vọng bạn sẽ uống ngon miệng. Tạm biệt!"

 

Và ngay khi lên đến đỉnh, anh ta đã nhảy ra khỏi xô và chạy với tốc độ tối đa.

 

Vì vậy, Dê tội nghiệp phải ở dưới đáy giếng cho đến khi người nông dân đến và tìm thấy khi nó đã chết một nửa vì lạnh.

 

Dê van xin người nông dân: “Thưa ông, tôi có mấy đứa con đang khát nước ở nhà. Xin ông cho tôi về dẫn mấy cháu đi tìm nước.”

 

“Ngươi dẫn ta và cả đàn gia súc của ta đến nhà ngươi, sau đó ta sẽ đưa cả đàn đi uống nước. Cứ theo ta, sẽ không bao giờ chết khát. Ngươi chỉ có hai mắt làm sao bằng mấy trăm con mắt này.”

 

Cuối cùng khi được cứu, Dê phát hiện ra rằng mình chỉ đổi một nhà tù này lấy một nhà tù khác, vì người nông dân đã nhốt chị và các con vào bầy cùng với cừu và dê của ông ta, và vì vậy chị và các con mất tự do vĩnh viễn.

 

Nguồn:

Tên truyện: Ups and Downs.

Tác giả: Jean De Bosschère.

Đăng trên: fairytalez.com/

Belgian Fairy Tales, Folk Tales and Fables.

 

Jean de Bosschère sinh ngày 5 tháng 7 năm 1878, là một nhà văn và họa sĩ người Bỉ. Mặc dù được biết đến với những cuốn tiểu thuyết dành cho người lớn gây tranh cãi, ông cũng đã viết và minh họa cho một bộ sưu tập các truyện của Bỉ, Beasts and Men: Folk Tales Collected in Flanders. Những truyện dân gian và truyện cổ tích kể những chuyện kỳ lạ về động vật và con người cho mọi lứa tuổi.


Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

Truyện cổ Philippine: TẠI SAO CHÓ VẨY ĐUÔI VÀ MÈO SỢ NƯỚC - Tác giả: Mabel Cook Cole

 


Truyện cổ Philippine

TẠI SAO CHÓ VẨY ĐUÔI VÀ MÈO SỢ NƯỚC

Tác giả: Mabel Cook Cole

 

 

Ở một thị trấn nọ, một người đàn ông giàu có từng sở hữu một con chó và một con mèo, cả hai đều rất hữu ích đối với ông. Chú chó đã phục vụ chủ trong nhiều năm và đã già đến mức rụng hết răng và không thể chiến đấu được nữa, nhưng nó là con vật dẫn đường tốt và đồng hành cùng chú mèo khỏe và tinh ranh.

 

Ông chủ có một cô con gái đang đi học ở một tu viện cách nhà không xa, và ông thường sai chó và mèo mang quà cho con gái.

 

Một ngày nọ, ông gọi những con vật trung thành và bảo chúng mang một chiếc nhẫn ma thuật cho con gái ông.

 

“Mầy khỏe và dũng cảm,” ông nói với con mèo “Mầy có thể mang chiếc nhẫn, nhưng phải cẩn thận để không làm rơi nó.”

 

Và với con chó, ông nói: "Mầy phải đi cùng với con mèo để hướng dẫn nó và giữ cho nó khỏi bị hại."

 

Chúng hứa sẽ cố gắng hết sức và bắt đầu đi. Tất cả đều tốt đẹp cho đến khi chúng đến một con sông. Vì không có cầu và không có thuyền, nên muốn băng qua sông thì phải bơi chứ không có cách gì khác.

 

“Hãy để tao mang chiếc nhẫn ma thuật,” con chó nói khi chúng chuẩn bị lao xuống nước.

 

"Ồ, không," con mèo trả lời, "chủ nhân đã giao nó cho tao mang."

 

“Nhưng mầy không bơi giỏi,” con chó lập luận. "Tao mạnh hơn mầy và có thể giữ nó tốt hơn mầy."

 

Nhưng con mèo không chịu từ bỏ chiếc nhẫn cho đến khi cuối cùng con chó dọa giết nó, nó miễn cưỡng đưa nhẩn cho chó.

 

Sông rộng và nước chảy xiết khiến chúng rất mệt, và ngay trước khi đến bờ đối diện, con chó đã đánh rơi chiếc nhẫn. Chúng đã tìm kiếm cẩn thận, nhưng không tìm thấy nó, và một lúc sau, chúng quay về để báo với chủ nhân về sự mất mát đau buồn. Tuy nhiên, ngay trước khi đến nhà, chú chó sợ hãi đến mức quay đầu bỏ chạy và không bao giờ quay lại nữa.

 

Con mèo tiếp tục về nhà một mình, và khi người chủ nhìn thấy nó, liền gọi để biết lý do tại sao nó quay lại sớm như vậy và những gì đã xảy ra với người bạn đồng hành của nó. Mặc dù con mèo tội nghiệp sợ hãi, nhưng nó cũng giải thích rằng chiếc nhẫn đã bị mất và con chó đã chạy trốn như thế nào.

 

Khi nghe câu chuyện của mèo, người chủ rất tức giận, và truyền lệnh rằng tất cả người nhà của ông phải truy tìm con chó, và cắt đuôi nó để trừng phạt.

 

Ông ta cũng ra lệnh rằng tất cả những con chó trên thế gian phải tham gia vào cuộc tìm kiếm, và kể từ đó, khi một con chó gặp một con khác, nó hỏi: “Mầy có phải là con chó già đã đánh mất chiếc nhẫn ma thuật hay không? Nếu vậy, cái đuôi của mầy phải bị cắt bỏ.” Thế là ngay lập tức con chó nào cũng đều nhe răng và vẫy đuôi để chứng minh rằng mình không ngậm nhẩn và không phải là vật có tội.

 

Kể từ đó, loài mèo sợ nước và không bao giờ bơi qua sông nữa.

 

Nguồn:

Tên truyện: “Why Dogs Wag Their Tails”, fairytalez.com/,

 


Thứ Năm, 23 tháng 9, 2021

TRÁI TIM CỦA THỎ RỪNG - Truyện cổ Poland (Ba-lan) của John Theophilus Naaké

 




Truyện cổ Poland (Ba-lan)

 

TRÁI TIM CỦA THỎ RỪNG

 

Tác giả: John Theophilus Naaké

 

Ngày xửa ngày xưa, trên một hòn đảo giữa sông Vistula có một lâu đài lớn, có tường bao quanh. Ở mỗi góc là một ngọn tháp cao, trên đó có cắm cờ, và có những lính canh khỏe mạnh canh giữ. Một cây cầu bằng da, được treo trên dây xích, nối với hòn đảo đến bờ sông.

 

Trong lâu đài này có một hiệp sĩ giàu có và dũng cảm. Bất cứ khi nào tiếng kèn vang lên qua cổng vào, đó là dấu hiệu chắc chắn rằng hiệp sĩ đã chiến thắng trở về và mang theo chiến lợi phẩm quý giá bên mình.

 

 

Trong các ngục tối sâu và tối của lâu đài, nhiều tù nhân bị giam giữ, những người này được dẫn ra ngoài hàng ngày để làm việc. Họ buộc phải sửa chữa các bức tường, và đào bới trong vườn. Trong số đó có một bà lão và chồng bà. Bà lão là một phù thủy, và bà quyết tâm trả thù cho chính mình vì những đau khổ của họ mà hiệp sĩ đã gây ra; bà chỉ chờ cơ hội khi chàng ta một mình.

 

 

Một ngày nọ, chàng hiệp sĩ trở lại lâu đài như thường lệ; mệt mỏi vì rang sức, chàng nằm xuống nghỉ ngơi trên bãi cỏ xanh, và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ say. Mụ phù thủy, người đã theo dõi chàng ta, lặng lẽ đi ra từ nơi ẩn náu, và rắc một ít hạt anh túc lên mắt hiếp sĩ để khiến chàng ngủ ngon hơn. Sau đó, mụ dùng một cành cây dương đánh chàng vào bên ngực nơi trái tim của chàng. Ngực của hiệp sĩ ngay lập tức được mở ra, và mụ phù thủy độc ác có thể nhìn thấy trái tim dũng cảm của chàng đang lặng lẽ đập. Mụ phù thủy độc ác cười khúc khích thích thú, và với những ngón tay xương xẩu và móng tay dài, mụ lấy trái tim khéo léo đến nỗi chàng hiệp sĩ tội nghiệp không tỉnh giấc. Sau đó, mụ đặt vào vị trí của nó trái tim của một con thỏ rừng, đóng chỗ ngực mở, ẩn mình giữa những bụi cây rậm rạp, và hăm hở chờ đợi kết quả của sự gian ác của mình.

 

 

Trước khi chàng hiệp sĩ tỉnh hẳn, chàng bắt đầu cảm thấy trái tim rụt rè của mình. Chàng hiệp sĩ, người đã từng không biết sợ hãi là gì, giờ đây run rẩy và trằn trọc cơ thể trong giấc ngủ. Cuối cùng thì chàng cũng mở mắt ra. Áo khoác của chàng trở nên quá nặng. Ngay khi thức dậy, chàng kinh hoàng nghe thấy tiếng chó sủa. Trước đây chàng thích lắng nghe tiếng khóc của chúng; bây giờ, khiếp sợ, chàng bỏ chạy như một con thỏ rừng nhút nhát. Khi chạy trốn về phòng của mình, tiếng kêu lách cách của vũ khí và đinh thúc ngựa của chính chàng làm chàng hoảng sợ đến mức chàng ném chúng đi; và, gần như kiệt sức vì kinh hãi, chàng gục xuống giường.

 

Đây thường là lúc hiệp sĩ chỉ mơ về những trận chiến và chiến lợi phẩm dồi dào; bây giờ chàng rên rỉ vì sợ hãi trong giấc ngủ của mình. Trước tiếng chó sủa, hay tiếng kêu cứu của binh lính, những người canh giữ lâu đài trên tháp cao, chàng run rẩy như một đứa trẻ, và gục mặt vào gối.

 

Sau một thời gian, kẻ thù của hiệp sĩ đã bao vây lâu đài của anh ta. Các sĩ quan và binh sĩ chờ đợi người chỉ huy của họ, người đã từng dẫn dắt họ ra trận và chiến thắng; nhưng họ đã chờ đợi trong vô vọng. Chàng ta, một hiệp sĩ dũng cảm, khi nghe thấy tiếng lạch cạch của vũ khí, tiếng giẫm đạp của ngựa và tiếng ồn ào của con người, đã chạy trốn lên chính đỉnh lâu đài của mình, từ đó chàng có thể nhìn thấy vô số lực lượng của kẻ thù. Ở đó, chàng nhớ lại những trận đánh trước đây của mình, những chiến công và vinh quang của tên mình. Chàng khóc lóc thảm thiết, và gọi lớn:

 

 

-“Ôi, Chúa ơi! cho tôi can đảm! Cho tôi sức khỏe và sức mạnh! Binh lính trung thành của tôi đang ở trong chiến trường, và tôi, thủ lĩnh của họ, người đã từng ra trận với họ, bây giờ, than ôi! như một thiếu nữ rụt rè, nhìn xuống họ từ bức tường lâu đài của tôi. Cho tôi một trái tim không sợ hãi! Cho tôi sức mạnh để gánh đôi tay của tôi! Hãy khôi phục lại con người cũ của tôi, và mang đến cho tôi chiến thắng!”

 

 

Những hồi ức về quá khứ đã đánh thức chàng như thể đang ở trong một giấc mơ. Chàng vội vàng về phòng, mặc áo giáp, lên ngựa và phi nước đại qua cổng. Những người lính gác đã hân hoan chào đón anh, và thổi kèn để thông báo sự xuất hiện của chàng. Chàng vội vàng bước tiếp, nhưng nỗi sợ hãi đang hiện hữu trong trái tim và tâm trí chàng. Khi đạo quân can đảm phá  vở vòng vây của kẻ thù, vị tướng kinh hãi, quay đầu ngựa, bay về thành. Dù được che chở sau những bức tường dày, nhưng nỗi sợ hãi vẫn chưa rời bỏ chàng. Hiệp sĩ xuống ngựa, chạy vào hầm sâu nhất, và ở đó, ngất đi, chờ đợi một cái chết chẳng vinh quang gì. Tuy nhiên, quân đội của chàng đã chiến thắng, và tiếng kèn ở các tòa tháp đã hân hoan báo tin.

 

Những người lính của chàng rất ngạc nhiên về hành vi hèn nhát của người lãnh đạo của họ. Họ tìm kiếm chàng trong một thời gian dài trong vô vọng; cuối cùng họ tìm thấy chàng trong một căn hầm, dở sống dở chết vì sợ hãi và tuyệt vọng.

 

 

Chàng hiệp sĩ bất hạnh không sống được bao lâu. Suốt cả mùa đông, chàng gắng sưởi ấm chân tay run rẩy của mình trước ngọn lửa. Khi mùa xuân đến, chàng mở cửa sổ để có thể hít thở bầu không khí trong lành một chút. Một con nhạn xây tổ ở gần mái nhà, bay ngang qua, đã dùng cánh của nó đập vào đầu chàng ta. Cú đánh định mệnh khiến chàng hiệp sĩ đáng thương ngã xuống như thể bị sét đánh, và ngay sau đó đã chết.

 

 

Chàng đã khiến tất cả những thuộc hạ vô cùng thất vọng. Họ không thể hiểu điều gì đã thay đổi hoàn toàn chủ nhân của họ. Một năm sau, khi một số phù thủy bị thất bại và sắp chết chìm vì cố làm phép để tạnh mưa, một trong số họ đã thú nhận rằng mụ phù thủy đã lấy trái tim của hiệp sĩ ra sao và đã đặt trái tim của một con thỏ vào vị trí đó. Nhờ đó, thuộc hạ của chàng hiểu rằng chàng hiệp sĩ can đảm của họ đã trở thành một kẻ hèn nhát như thế nào. Họ cay đắng khóc cho số phận nghiệt ngã của chủ nhân, và, như một hình phạt, họ đốt xác của mụ phù thủy độc ác trên nấm mồ của chàng.

 

&&&

 

Nguồn: https://fairytalez.com/

Polish Fairy Tales, Folk Tales and Fables

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

TRÁI CÂY QUÝ NHẤT - Truyện cổ Bulgaria - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

 

Tranh của Andrian Bekiarov, Bulgarian 


Trái cây quý nhất

Truyện cổ Bulgaria

(Tác giả khuyết danh)

 

Ngày xửa ngày xưa, có một người cha có ba người con trai. Người cha đã già và ông chỉ muốn chia cho một trong ba người con trai của mình toàn bộ tài sản thừa kế sau khi ông mất, nhưng ông không thể quyết định ai trong số họ xứng đáng nhất. Một ngày nọ, ông gọi họ lại và nói với họ như sau: “Cha sẽ cho các con mỗi đứa một túi vàng. Hãy đi khắp thế giới và tìm một loại trái cây quý giá nhất. Người mang thứ trái cây đó đến cho cha sẽ được cả gia tài của cha.”

 

Các chàng trai cầm tiền và đi ba hướng khác nhau để tìm trái cây. Ba năm trôi qua, cuối cùng những người con trai đã trở về nhà. Đầu tiên, người cha hỏi người con trai cả: "Con mang về cho cha loại trái cây quý giá nhất là gì?"

 

Người con trả lời: “Thưa cha, con tin rằng trái quý nhất phải là trái có vị ngọt nhất. Con đã đến nhiều quốc gia khác nhau để tìm cho cha loại nho trắng. Trong tất cả các loại trái cây trên trái đất, nho trắng là quả ngọt nhất.”

 

“Con trai giỏi lắm,” người cha nói.

 

"Còn con thì sao?" Người cha hỏi khi quay sang đứa con giữa.

 

“Con cho rằng trái cây quý nhất là trái cây khó kiếm nhất nên con lặn lội xuống phía Nam. Con đã tới Châu Phi và mua cho cha những thứ trái cây không thể tìm thấy ở xứ minh. Đây là cam, chà là và chuối. Cha hãy chọn thứ gì cha thích,” đứa con giữa trả lời.

 

“Con trai giỏi lắm. Cha sẽ lấy một thứ,” người cha trả lời.

 

Sau đó ông quay sang người con trai út. “Con đã mang gì cho cha? Tại sao con không có thứ gì cả?" người cha hỏi.

 

Người con trai út nói: “Đúng là con đến với hai bàn tay trắng, và con đã không tiêu số vàng mà  cha đã cho con để mua trái cây để biếu cha. Con đến trường với thầy cô và sách. Họ đã dạy con trong ba năm. Con tin rằng đây là loại trái cây quý giá nhất.”

 

Nghe những lời này, người cha vui mừng nói: “Con đã mang đến cho cha thứ trái quý nhất. Con xứng đáng được thừa kế nhất bởi vì không có thứ trái nào quý hơn thứ trái mang kiến thức cho con người.”

 

 

Nguồn: fairytalez.com

Bulgarian Fairy Tales, Folk Tales and Fables.

 



Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021

CHIẾC GHẾ ĐẨU CỦA NGƯỜI THỢ RÈN - Chuyện cổ Czechoslovakia (Tiệp Khắc)

 

Miền quê ở Tiệp Khắc.

Chuyện cổ Czechoslovakia (Tiệp Khắc)

CHIẾC GHẾ ĐẨU CỦA NGƯỜI THỢ RÈN

Chuyện về một người thấy cái chết là cần thiết

 

Tác giả: Parker Fillmore

 

 Ngày xửa ngày xưa, khi Chúa Giê-su và thánh Peter đi  cùng nhau trên thế gian, một buổi tối nọ, họ dừng lại ở nhà của một bác thợ rèn và xin ở nhờ qua đêm.

 

“Không có chi,” người thợ rèn nói. "Tôi là người nghèo nhưng bất cứ điều gì tôi có, tôi sẽ sẵn lòng chia sẻ với quý Thầy."

 

Bác đặt chiếc búa xuống và dẫn khách vào bếp. Ở đó, bác chiêu đãi họ một bữa tối ngon lành và sau khi họ ăn xong, bác nói với họ:

 

“Tôi thấy rằng hai Thầy đã rất mệt mỏi sau cuộc hành trình trong ngày của mình. Đây là giường của tôi. Nằm xuống nó và ngủ một giấc đến sáng.”

 

"Vâỵ anh sẽ ngủ ở đâu?" Thánh Peter hỏi.

 

"Tôi ư? Đừng nghĩ về tôi,” người thợ rèn nói. "Tôi sẽ ra nhà kho và ngủ trên đống rơm."

 

Sáng hôm sau, người thợ rèn  đãi hai vị khách một bữa sáng hảo hạng, và sau đó chúc họ  một chuyến hành trình tốt đẹp.

 

Khi họ rời đi, Thánh Peter khều vào áo choàng lấy Chúa Giê-su và thì thầm:

 

“Thưa Thầy, Thầy không định thưởng cho người đàn ông này sao? Anh ấy nghèo nhưng vẫn đối xử rất hiếu khách với chúng ta."

 

Chúa Giê-su trả lời Thánh Peter:

 

“Phần thưởng của thế giới này là phần thưởng trống rỗng. Ta đang nghĩ sẽ chuẩn bị cho anh ấy một chỗ trên thiên đường. Tuy nhiên, ta sẽ cấp cho anh ta một thứ gì đó ngay bây giờ.”

 

Sau đó, Ngài quay sang người thợ rèn và nói:

  

“Anh dự định sẽ làm gì? Hãy trình bày ba điều ước và chúng sẽ được thực hiện.”

 

Người thợ rèn vui mừng khôn xiết. Với điều ước đầu tiên của mình, bác ấy nói:

 

"Tôi muốn sống lâu trăm tuổi và luôn mạnh mẽ  như tôi ở thời điểm này."

 

Chúa Jêsus phán:

 

“Rất tốt, điều đó sẽ được cấp cho anh. Điều ước thứ hai của anh là gì? ”

 

Người thợ rèn suy nghĩ một lúc. Sau đó bác nói:

 

“Tôi ước rằng tôi được thịnh vượng và luôn có những thứ tôi cần. Cầu mong công việc ở cửa hàng của tôi luôn dồi dào như ngày hôm nay.”

 

“Điều này cũng sẽ được ban cho anh,” Chúa Giêsu nói. "Bây giờ hãy nói điều ước thứ ba của anh."

 

Người thợ rèn suy nghĩ hồi lâu, đầu tiên không thể quyết định điều ước thứ ba. Cuối cùng bác ấy nói:

 

“Xin cho rằng bất cứ ai ngồi trên chiếc ghế đẩu nơi Thầy đã ngồi vào tối qua không thể đứng dậy cho đến khi tôi thả người đó ra.”

 

Thánh Peter bật cười về điều này, nhưng Chúa Giê-su gật đầu và nói:

 

"Ước muốn này cũng sẽ được thực hiện."

 

Thế là họ chia tay nhau, Chúa Giêsu và Thánh Peter tiếp tục lên đường, và người thợ rèn trở về lò rèn của mình.

 

Mọi việc đã xảy ra như Chúa Jêsus đã hứa với họ. Nhiều công việc đổ vào cửa hàng thợ rèn. Năm tháng trôi qua nhưng không để lại dấu ấn gì đối với người thợ rèn. Bác vẫn trẻ trung và đầy sức sống như ngày nào. Bạn bè của bác già đi và lần lượt từng người qua đời. Các con của bác đã lớn, lập gia đình và có con riêng. Chúng lần lượt lớn lên. Năm tháng mang đến tuổi trẻ và sự trưởng thành, già dặn cho tất cả con cháu bác. Riêng người thợ rèn vẫn không thay đổi.

 

Một trăm năm là một thời gian dài nhưng cuối cùng thì nó cũng kết thúc.

 

Một đêm khi người thợ rèn đang cất công cụ của mình thì có tiếng gõ cửa. Người thợ rèn dừng tiếng hát của mình để gọi:

 

"Ai đó?"

 

“Chính là tôi, Thần chết,” một giọng nói trả lời. “Mở cửa đi, thợ rèn. Thời của bạn đã đến."

 

Người thợ rèn mở tung cánh cửa.

 

“Mời vào,” lão nói với người phụ nữ đang đứng đó. “Tôi sẽ sẵn sàng trong giây lát sau khi cất công cụ của mình.” lão mỉm cười một mình. “Mời bà ngồi xuống chiếc ghế đẩu kia, và nghỉ ngơi một lát được không, thưa bà? Bà hẵn phải mệt mỏi khi đi lại trên thế gian.”

 

Thần chết, không nghi ngờ gì, ngồi xuống ghế đẩu.

 

Người thợ rèn phá lên cười sảng khoái.

 

“Bây giờ tôi đã có bà, thưa phu nhân! Hãy ở yên đó cho đến khi tôi trả tự do cho bà!”

 

Tử thần cố gắng đứng dậy nhưng không được. Bà ấy vặn vẹo thế này, thế kia. Xương rỗng của bà kêu răng rác. Bà nghiến răng. Nhưng làm gì bà cũng không thể nhấc mình lên khỏi ghế đẩu được.

 

Cười khúc khích và hát, người thợ rèn để bà ở đó và bắt đầu công việc kinh doanh của mình.

 

Nhưng ngay sau đó lão phát hiện ra rằng việc xích Thần chết vào ghế đã có kết quả bất ngờ. Để bắt đầu, lão muốn ngay lập tức ăn mừng cuộc vượt thoát của mình bằng một bữa tiệc. Lão có một con lợn đã được vỗ béo một thời gian. Lão sẽ giết con lợn này và băm nhỏ thành xúc xích cay hảo hạng để hàng xóm và bạn bè của lão sẽ đến ăn. Giăm bông sẽ được treo trong ống khói.

 

Nhưng khi lão cố gắng giết con vật, đòn rìu của lão không có tác dụng gì. Lão đập vào đầu con lợn và để chắc chắn, lăn lộn nó trên mặt đất. Nhưng khi lão dừng lại để cắt cổ họng, con vật nhảy lên, kêu một tiếng rồi biến mất trước khi người thợ rèn kịp hoàn hồn.

 

Tiếp theo, lão cố giết một con ngỗng mà lão đã vỗ béo để chuẩn bị cho hội chợ làng.

 

“Không có xúc xích thịt lợn, ta sẽ phải hài lòng với món ngỗng quay,” lão nói.

 

 

Nhưng khi lão thợ rèn cố gắng cắt cổ con ngỗng, chẳng thấy tý máu nào bén dao. Ngạc nhiên, lão nới lỏng tay và con ngỗng tuột khỏi tay lão và ngoe nguẩy đuổi theo con lợn.

 

"Hôm nay sao lạ lùng vậy kìa?" người thợ rèn tự hỏi mình. “Có vẻ như mình không được ăn xúc xích hay ngỗng quay. Có lẽ mình sẽ phải hài lòng với một cặp chim bồ câu."

 

Lão đi ra chuồng bồ câu và bắt được hai con. Lão đặt  chúng trên cái thớt và với một nhát rìu mạnh mẽ, lão đã cắt đứt đầu cả hai.

 

“Vậy là xong!" lão la to mừng chiến thắng. "Tao đã có chúng mày rồi nhé!"

 

 

Nhưng ngay khi lão nói, những cái đầu nhỏ bé bị cắt rời và cơ thể dính lại với nhau như thể không có chuyện gì xảy ra, và hai con chim bồ câu vui vẻ bay đi.

 

Cuối cùng thì sự thật cũng lóe lên trong tâm trí người thợ rèn. Chừng nào lão còn giữ Thần chết gắn chặt vào cái ghế đẩu đó thì không gì có thể chết được! Chắc chắn là không! Vì vậy, không có xúc xích cay, không có dăm bông hun khói, không có ngỗng quay - thậm chí một con chim bồ câu nướng cũng không! Trước mắt không phải là một viễn cảnh đẹp đẽ, vì người thợ rèn thích những thứ ngon để ăn. nhưng lão có thể làm được gì cơ chứ? Giải phóng Tử thần? Không bao giờ! Lão sẽ là nạn nhân đầu tiên của bà ta! Vậy thì, nếu không thể có thịt tươi, lão sẽ phải bằng lòng với đậu Hà Lan, cháo và bánh mì.

 

Đây thực sự là những gì lão và mọi người khác phải làm khi nguồn cung cấp cũ của họ đã cạn kiệt.

 

Mùa hè trôi qua và mùa đông theo sau. Rồi mùa xuân đến mang theo những khổ nạn mới không lường trước được. Với thời tiết ấm áp, tất cả các loài gây hại và côn trùng của mùa hè trước lại hồi sinh, vì không một con nào đã bị giết bởi cái lạnh mùa đông. Và tất cả trứng mà chúng đã đẻ đều nở ra cho đến khi trái đất, không khí và nước tràn ngập các sinh vật sống. Chim, chuột và châu chấu, côn trùng và sâu bọ đủ loại bao phủ các cánh đồng và ăn hết mọi thứ xanh tươi. Những đồng cỏ trông như thể có một vụ cháy đã quét sạch chúng. Những vườn cây ăn trái trơ cành, chẳng có lá và hoa.

 

Những đàn cá, ếch nhái và các sinh vật nước tràn ngập các hồ và sông khiến nước bị ô nhiễm và con người không thể uống được.

 

Nước và đất đều tràn ngập những sinh vật sống mà không một sinh vật nào có thể bị giết. Ngay cả không khí cũng dày đặc những đám mây muỗi và ruồi nhặng.

 

Những người đàn ông và phụ nữ bước đi trông như những bóng ma thiểu não. Họ không muốn sống nhưng họ phải sống tiếp vì họ không thể chết.

 

Cuối cùng thì người thợ rèn cũng nhận ra tất cả sự khốn cùng mà ước muốn ngu ngốc của lão đang mang lại cho thế giới.

 

“Bây giờ tôi hiểu rồi,” lão nói, “Đức Chúa Trời Toàn năng đã làm rất tốt khi Ngài gửi Thần chết đến thế giới. Bà ấy có việc phải làm và tôi đã sai khi giam bà ấy làm tù nhân.”

 

Vì vậy, lão thả Thần chết ra khỏi cái ghế đẩu và không la lên tiếng nào khi bà ta đưa những ngón tay xương xẩu của mình vào cổ họng lão.

 

Nguồn: fairytalez.com

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2021

Truyện cổ tích Armenia: BÀ LÃO VÀ CON MÈO - Nguyễn Khắc Phước kể.

 

Tàn tích của Đền Zvartnots với hình nền là núi Ararat ở Armenia.  
Ảnh từ: thecourier.com.au

Truyện cổ tích Armenia

BÀ LÃO VÀ CON MÈO

Tác giả: A. G. Seklemian, người Armenia


 

Ngày xưa một bà lão có một con dê cái. Hằng ngày bà vắt sữa dê và giữ sữa trong tủ nhưng một con mèo ranh mãnh đến liếm hết sữa. Nhiều lần như thế nhưng bà không bắt được mèo. Tuy nhiên, một ngày nọ, bà lão đã bắt được mèo và trừng phạt bằng cách cắt đuôi nó rồi thả nó đi.

 

"Meo! meo!" con mèo kêu; "Cho tôi xin lại cái đuôi của tôi!"

 

“Mang sữa của ta lại đây thì ta sẽ trả cho mầy cái đuôi.” bà già nói.

 

Mèo tìm đến dê và nói: “Này chị dê tốt bụng, hãy cho tôi một ít sữa! Tôi sẽ đưa nó cho bà già và lấy lại cái đuôi của tôi.”

 

Dê trả lời: “Hãy mang cho tôi một ít nhánh từ cái cây đằng kia, và tôi sẽ cho bạn sữa.”

 

Con mèo đi đến cái cây và nói, "Hỡi cây tốt bụng ơi, hãy cho tôi một ít nhánh! Tôi sẽ mang nhánh đến cho chị dê để đổi lấy một ít sữa đưa cho bà lão, và lấy lại cái đuôi.”

 

“Mang cho tôi một ít nước và tôi sẽ cho bạn một ít nhánh.” cái cây trả lời.

 

Con mèo đến chỗ người gánh nước và nói: “Chị gánh nước nhân từ ơi, cho tôi một ít nước! Tôi sẽ mang nước đến cái cây kia và lấy vài nhánh cây cho chị dê rồi chị dê cho một ít sữa, mang cho bà già để lấy cái đuôi của tôi.”

 

“Hãy mang cho ta một đôi giày và ta sẽ cho mày một ít nước,” người gánh nước nói.

 

Con mèo đến chỗ người thợ đóng giày và nói, “Bác thợ giày rộng lượng ơi, hãy cho con một đôi giày! Con sẽ đưa cho người gánh nước, người ấy sẽ cho con một ít nước; con sẽ mang nước đến cho cây và lấy một ít nhánh cho chị dê; chị dê sẽ cho con một ít sữa, và con sẽ mang sữa cho bà già để lấy đuôi của con.”

 

“Hãy mang cho ta một quả trứng và ta sẽ cho mày một đôi giày,” người thợ đóng giày trả lời.

 

Con mèo đi đến chỗ con gà mái và nói, “Chị gà mái ngoan hiền ơi!  Hãy đẻ cho tôi một quả trứng! Tôi sẽ mang nó cho người đánh giày và lấy một đôi giày cho người gánh nước; chị ta sẽ cho tôi một ít nước, tôi sẽ mang đến gốc cây và lấy một nhánh cây cho chị dê; chị ấy sẽ cho tôi một ít sữa, mà tôi sẽ đưa sữa cho bà già và lấy đuôi của tôi.”

 

“Hãy mang cho tôi một ít lúa mạch thì tôi sẽ đẻ một quả trứng cho bạn,” con gà mái trả lời.

 

Con mèo đi đến cái máy đập lúa và nói, "Anh đập lúa tử tế ơi, cho tôi một ít lúa mạch!"

 

Máy đập lúa nói: "Kia kìa, bạn có thể thu nhặt lúa mạch rải rác mà chủ nhân tốt bụng của tôi đã để lại làm thức ăn cho chim và kiến."

 

Mèo nhặt lúa mạch và đưa cho chị gà mái, chị đẻ cho nó một quả trứng. Mèo mang quả trứng cho người thợ giày và nhận được một đôi giày. Nó mang đôi giày đến người gánh nước và lấy một thùng nước tưới cho cây. Cái cây cho nó một ít nhánh cây và nó mang nhánh cây cho chị dê. Dê cho nó một ít sữa và nó mang cho bà lão.

 

Bà lão nói: “Đây là cái đuôi của mày, từ rày về sau đừng lấy trộm sữa của ta nữa.”

 

Con mèo lấy đuôi của mình và cố gắng gắn vào vị trí cũ nhưng nó không làm đươc. Nó thử  dán lại bằng nhựa thông, bằng hắc ín và bằng keo, nhưng đều vô ích. Vì vậy, con mèo đó vẫn cụt đuôi cho đến ngày nay, như một dấu hiệu cho thấy nó  là một tên trộm.

 

Nguyễn Khắc Phước kể theo: fairytalez.com

Armenian Fairy Tales, Folk Tales and Fables 

_________________



Thứ Hai, 13 tháng 9, 2021

Truyện cổ Pakistan: VỢ CHỒNG NGƯỜI NÔNG DÂN VÀ CÁNH CỬA MỞ | VUA VÀ CÁC CÔNG CHÚA | CHÓ RỪNG DÍNH THUỐC NHUỘM

 

Cảnh nông thôn ở Punjab, Pakistan


VỢ CHỒNG NGƯỜI NÔNG DÂN 

VÀ CÁNH CỬA MỞ 


Tác giả: Rev. Charles Swynnerton

 

Ngày xửa ngày xưa, một người nông dân nghèo và vợ anh ta, sau khi kết thúc ngày lao động và ăn bữa tối thanh đạm, đang ngồi bên đống lửa. Vào lúc đó, một cuộc tranh cãi nảy sinh giữa họ về việc ai nên đóng cánh cửa trước đó đã bị một cơn gió mạnh thổi tung. 

"Này bà, đóng cửa lại!" người chồng nói. 

"Thì ông tự đóng đi!" người vợ nói. 

"Tôi sẽ không đóng cửa, và bà cũng không," người chồng nói; "Nhưng ai nói từ đầu tiên, người đó sẽ đóng cửa lại." 

Đề nghị này làm người vợ vô cùng hài lòng, và vì vậy, cặp vợ chồng già yên lặng đi ngủ. 

Vào giữa đêm, họ nghe thấy một tiếng động, và nhìn ra, họ thấy một con chó hoang đã vào phòng và đang tìm cách mở kho thức ăn nhỏ của họ. Tuy nhiên, những người ngớ ngẩn này không thốt ra một lời nào, và con chó, đã đánh hơi mọi thứ, ăn thỏa thích, rồi đi ra khỏi nhà. 

Sáng hôm sau, người phụ nữ mang một ít ngũ cốc sang nhà một người hàng xóm để xay thành bột. 

Khi bà vợ vắng mặt, người thợ cắt tóc bước vào và nói với người chồng: "Sao mà anh ngồi đăm chiêu một mình vậy?" 

Người nông dân không trả lời. Người thợ cắt tóc bắt đầu cạo đầu, nhưng người nông dân vẫn không nói; sau đó anh ta cạo đi một nửa bộ râu và một nửa bộ ria mép, nhưng ngay cả khi đó người chủ nhà vẫn cố gắng không thốt ra một lời nào. Sau đó, người thợ cắt tóc phủ lên người anh ta một lớp sơn đen muội đèn gớm ghiếc, nhưng người nông dân rắn rỏi vẫn nín như câm. 

"Ông này bị ai bỏ bùa mê rồi!" Người thợ cắt tóc kêu lên, và vội vã rời khỏi nhà. 

Người chồng vẫn còn ngồi đó khi người vợ trở về từ nhà hàng xóm. Khi nhìn thấy chồng mình trong bộ dạng khủng khiếp như vậy, bà bắt đầu run rẩy, và kêu lên: “A! Khốn khổ, ông đã làm gì vậy?" 

Người chồng nói: “Bà đã nói lời đầu tiên, vậy thì hãy đóng cửa lại.” 

 

VUA VÀ CÁC CÔNG CHÚA 

Tác giả: Rev. Charles Swynnerton

 

Xưa có một vị vua có nhiều cô con gái. Ông hỏi cô công chúa lớn nhất:  "Hoàng nhi yêu Trẫm như thế nào?" 

"Nhi thần yêu phụ vương như đường," cô ấy nói. 

Tiếp theo, ông hỏi cô con gái thứ hai: "Hoàng nhi yêu Trẫm thế nào?" 

"Nhi thần yêu phụ vương như mật ong," cô ấy nói. 

Đến cô thứ ba, nhà vua hỏi: "Hoàng nhi yêu Trẫm thế nào?" 

Cô ấy nói: “Nhi thần yêu phụ vương như rượu bia.” 

Đến người cuối cùng và cũng là người trẻ nhất, nhà vua hỏi: "Hoàng nhi yêu Trẫm như thế nào?" 

"Nhi thần yêu phụ vương như muối," cô ấy nói. 

Khi nghe câu trả lời của cô con gái út, nhà vua cau mày, và khi cô ấy vẫn tiếp tục lặp lại câu trả lời đó, ông đuổi cô ấy vào rừng. 

Ở đó, khi đang buồn bã lang thang, cô nghe thấy tiếng ngựa chạy, và cô ẩn mình trong một cái cây rỗng. Nhưng chiếc váy của cô tung bay khiến người cưỡi ngựa nhìn thấy, và may mắn, người đó là một hoàng tử của lân quốc. Ngay lập tức, người ấy yêu cô và kết hôn với cô. 

Một thời gian sau, nhà vua, cha cô, người không biết chuyện gì đã xảy ra với cô, đã tìm đến thăm nhà chồng cô. Khi đầu bếp đang nấu nướng, công chúa chăm sóc tất cả các món ăn được dọn cho cha phải là đồ ngọt, thế nhưng khi dọn lên, nhà vua chỉ chuyển qua hoặc chỉ nếm thử mặc dù ông đang rất đói và đang cần thứ gì đó có thể ăn được.  Chỉ còn một món cuối cùng là đĩa rau bina thông thường, nêm với muối, như nông dân ăn, và nhà vua  bằng lòng  và ăn nó một cách ngon lành. 

Bấy giờ, công chúa vén mạng che mặt, để lộ ra trước mặt cha và nói: “Hỡi phụ vương, nhi thần yêu phụ vương như muối; Tình yêu của nhi thần  có thể đơn giản, nhưng chân thật và lâu dài, và nhi thần cầu xin sự tha thứ của phụ vương." 

Sau đó, nhà vua nhận ra mình đã phạm sai lầm lớn như thế nào, và đã giảng hòa hoàn toàn với con gái. 

 

CHÓ RỪNG DÍNH THUỐC NHUỘM 

Tác giả: Rev. Charles Swynnerton

 

Một con chó rừng bị rơi vào một cái bình lớn chứa đầy thuốc nhuộm. Khi trở về nhà, tất cả bạn bè của nó đều ngạc nhiên nói: 

"Chuyện gì đã xảy ra với bạn vậy?" 

Nó vểnh đuôi và trả lời: “Có ai trên thế gian này gặp may như tao không? Hãy nhìn tao đây! Đừng ai gọi tao là 'chó rừng' nữa nhé." 

"Vậy thì bạn muốn được gọi là gì?" các bạn hỏi. 

 "Công," từ đây tụi bây cứ gọi tao là Công,” chó rừng đáp, dạo lui, dạo tới, tỏ ra hãnh diện lắm. 

Những bạn của nó nói, “Nhưng một con công có thể xòe đuôi  đẹp lộng lẫy. Bạn có thể xòe đuôi ra không?” 

“Chà, không, tao không thể làm được điều đó,” chó rừng trả lời. 

Họ tiếp tục: “Và một con công có thể tạo ra tiếng kêu nhẹ nhàng du dương. Bạn có thể tạo ra tiếng kêu du dương hay không? ” 

Chó rừng nói: “Cái đó thì tao cũng chịu luôn.” 

Các bạn vặn lại: “Vậy rõ ràng nếu bạn không phải là chó rừng, thì bạn cũng không phải là công.” 

Và chúng đuổi nó ra khỏi nhóm bạn

 

Nguồn: fairytalez.com

Pakistani Fairy Tales, Folk Tales and Fables.

 

 


Thứ Ba, 27 tháng 7, 2021

75 VẪN CÒN XUÂN

 (Thuật lại 1 bài báo trên The Guardian)

 

Joan Macdonald là một phụ nữ cao tuổi nhưng trông giống như một vận động viên thể hình. Nhưng trước đây, bà không được như vậy.

 

Ở tuổi 71, bà nặng 90kg, bị tăng huyết áp và các vấn đề về thận.  Bà thường dùng thuốc điều trị chứng trào ngược axit và cholesterol, và bác sĩ của bà muốn tăng gấp đôi liều lượng.

 

Con gái bà, Michelle, đã thẳng thắn nói "Mẹ rồi sẽ kết thúc như bà ngoại trong viện dưỡng lão! Và mọi người sẽ phải chăm sóc mẹ. Mẹ có muốn điều đó không?"

 

Nghe lời con gái, bà rời nhà ở Ontario, Canada để đến với Michelle và chồng, cả hai đều là huấn luyện viên thể dục, ở Tulum, Mexico.

 

Bà đến thăm phòng tập thể dục. Bà theo dõi chương trình tập luyện của Michelle, sử dụng máy móc, sau đó tập tạ nhẹ - 2,5lb (1kg) - tập đến tạ nặng hơn. Bà bắt chước nâng một thanh tạ và hạ nó xuống sau đầu. Dần dần, bà có thể nâng đến 25lb (11kg).

 

Mark Peterson, phó giáo sư về y học vật lý và phục hồi chức năng tại Đại học Michigan cho biết: “Có một quan niệm sai lầm rằng những người trên 65 tuổi không thể tạo ra sự phát triển của cơ. "Cơ là một mô có thể thích ứng với kích thích." Điều quan trọng là phải kiểm tra với bác sĩ trước và bắt đầu từ từ.

 

Sau 9 tháng thì bà không còn dùng thuốc thang gì nữa.

 


Trên Instagram, Macdonald đăng ảnh bà mặc áo thể thao hoặc trang phục đi biển. Trang của bà có 1,4 triệu người theo dõi. Nếu bạn có tài khoản Instagram, hãy tìm trainwithjoan và theo dõi cho vui.

 

Năm nay, Macdonald đã tổ chức sinh nhật lần thứ 75 của bà. Bà hết sức lạc quan và có nhiều dự định muốn xây dựng cái gì đó, nhưng ưu tiên vẫn là xây dựng chính mình.

 

Macdonald đã sống phàn lớn cuộc đời trưởng thành của mình trong một cơ thể được tẩm thuốc.  Vậy tại sao bà có thể thực hiện thay đổi ở tuổi 71?  Bà nói, “Tôi biết là mình đã chạm đáy và không để xuống sâu hơn nữa.”

 


“Tôi bận rộn với gia đình và quên mất chính mình. Ước gì tôi đã biết chuyện này sớm, tôi đã là người khỏe mạnh hơn từ lâu rồi,” bà nói.

 

Là một phụ nữ cao tuổi, bà đang tìm cách làm cho mình trẻ ra. “Mọi người cần biết, đặc biệt là phụ nữ, ở tuổi 40 chưa phải là hết thời rồi, chắc chắn cũng chưa hết thời ở tuổi 50 hoặc 60 hoặc 70. Bạn có thể tiếp tục và tiếp tục cho đến ngày không còn nữa,” bà nói.

.