Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp bút. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2018

CHUYỆN PHIẾM VỀ BÀ ĐẦM, ĐÍT VỊT, ĐẦU RỒNG

CHUYỆN PHIẾM VỀ BÀ ĐẦM, ĐÍT VỊT, ĐẦU RỒNG
  
Bà Đầm không xuất hiện nơi công chúng?

Tình cờ tôi đoc trên mạng bài ĐÍT VỊT, ĐẦU RỒNG của nhà văn Hoàng Hải Thủy và ngạc nhiên thấy ông này cho rằng các quan Tây không bao giờ cho các bà vợ đi cùng nên không có cảnh “Bà Đầm ngoi đít vịt” trong thơ Tú Xương và cảnh ông Phủ cõng bà Đầm trong thơ Huyện Nẻ Nguyễn Thiện Kế.


Nhà văn Hoàng Hải Thủy đưa một tấm hình , trong đó, quan Tây đứng chung với quan ta mà không thấy bà Đầm nào. Dưới ảnh có ghi: “Ảnh ghi khỏang năm 1910 – 1915”, nếu vậy, trong thời gian đó có 2 kỳ thi Hương, và khả năng kỳ thi kia có vợ Tây đến dự thì sao?

Hoàng Hải Thủy viết:

“Nhưng không có bà Đầm trong những cuộc lễ của chính quyền. Bà vợ công chức Pháp không bao giờ đi theo chồng ra nơi công chúng. Vì vậy không có chuyện những ông Cử Nhân Việt phải quì lậy bà Đầm.

Không có cảnh:
Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông Cử ngỏng đầu rồng.

…Những bà Đầm vợ các ông Công Sứ Pháp lại càng không xuất hiện bên ông chồng. Do vậy không thể có chuyện Ông Phủ Vĩnh cõng Bà Đầm như được tả trong bài thơ:
Thằng cha Phủ Vĩnh thế mà thâm
Nịnh Bố Cu Tây, cõng Mẹ Đầm.
Đôi vú ấp vai, đầu nghển nghển
Hai tay ôm đít, mặt hầm hầm.
Phen này cứng cựa nhờ ơn tổ
Lúc ấy sa chân chết bỏ bầm.
Chẳng thiết mề-đay cùng tưởng lục
Đưa tay lên mũi, miệng cười thầm.”
(Hết phần trích từ bài của HHT.)

Trong bài VỊNH KHOA THI HƯƠNG, Trần Kế Xương đã tả rõ ràng:
Lọng cắm rợp trời, quan sứ đến;
Váy lê phết đất, mụ đầm ra

Theo như sách sử cho biết, kì thi năm Đinh Dậu 1897 có vợ chồng Toàn quyền Paul Doumer và vợ chồng tôn công sứ Nam Định Le Normand đến dự. Như vậy ảnh chụp kỳ thi sau kỳ có bà Đầm đến dự từ 17 đến 22 năm.

Rất tiếc nhà văn Hoàng Hải Thủy không đọc hết tài liệu mà chỉ căn cứ vào một tấm ảnh để kết luận thiếu chính xác.

Một thiếu sót khác của Hoàng Hải Thủy là ông không biết tác giả bài Vịnh Tri Phủ Vĩnh Tường là ai.

Đó là ông Nguyễn Thiện Kế, một nhà thơ trào phúng yêu nước, mà nhiều con đường đã mang tên ông.
Nguyễn Thiện Kế (1849-1937) tên tự là Trung Khả, hiệu Đường Vân hay Nễ Giang, còn được gọi là Huyện Nẻ hay Huyện Móm, là một chỉ huy của khởi nghĩa Bãi Sậy trong phong trào Cần Vương và cũng là em ruột của Nguyễn Thiện Thuật, quê ở làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ngoài ra, ông còn làm thơ trào phúng và cũng là anh rể của thi sĩ Tản Đà.

Ông nổi tiếng về thơ phúng thế. Thơ ông phần nhiều nhắm vào đám qua trường tham ô, vào đám người có địa vị cao trong xã hội mà không biết trọng phẩm cách. Ông kịch liệt đả kích những thói hư tật xấu, nhiều khi đi đến chỗ thóa mạ nặng nề mất phong độ của làng tao nhã. Cho nên thơ ông hầu hết thuộc về loại châm phúng. Có thể coi là thơ trào phúng. (Theo thivien.net.)

Một số tác phẩm của ông có thể tìm thấy trên thivien.net:
Đánh tài bàn, Khóc vợ bé, Tổng đốc Hải Dương, Tri phủ Vĩnh Tường, Tuần phủ Thái Bình, Vịnh Kiều.

Tóm lại, bà Đầm trong thơ của Tú Xương và Huyện Nẻ là nhân vật có thực, chứ không phải bịa.




Ông Tây, bà Đầm cùng xuất hiện nơi công chúng, sao bảo rằng không?

Thưa Thầy, em nghĩ khác được không?

Tôi không đủ khả năng để bình thơ Tú Xương và nếu có bình thì là chuyện vô ích bởi bất cứ ai học qua chương trình phổ thông đều đã được thầy cô giảng kỹ rồi.

Tôi chỉ nói tào lao cho vui mà thôi.

Trước hết xin tóm sơ về những điều đã học được.

Thường thì thầy cô giảng về thơ Tú Xương như thế này:
-Hiện thực trong thơ Tú Xương là một bức tranh xám xịt, dường như chỉ có rác rưởi, đau buồn của xã hội thực dân - nửa phong kiến.
-Cảm hứng trong thơ ông là nỗi buồn đau trước vận nước vận dân.
-Với giọng văn châm biếm sâu cay, thơ văn của ông đã đả kích bọn thực dân phong kiến, bọn quan lại làm tay sai cho giặc, bọn bán rẻ lương tâm chạy theo tiền bạc, bọn rởm đời lố lăng trong buổi giao thời.

Và bài Giễu Người Thi Đỗ cũng trong quỹ đạo đó.

GIỄU NGƯỜI THI ĐỖ
Trần Kế Xương

Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sướng không!
Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân, ông cử ngẩng đầu rồng.
Câu cuối cùng, có bản là:
Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng.

Sau đây là ý của tôi.

1-Theo nhà Hán học Linh Đàn, “các kỳ thi hương đỗ đạt mỗi trường cỡ chừng 10 đến 20 thí sinh”, vậy trong lễ xướng danh không chỉ có một tân khoa đến dự, thế mà Tú Xương dùng đại từ “nó” trong câu thứ hai e rằng không đúng ngữ pháp. Phải là “chúng” mới đúng.

2-Tại sao không phải đít ngổng mà là đít vịt? Đít của bà Đầm có lẽ mập lắm khiến ông Tú phát thèm và vốn là dân nhậu nên liên tưởng đến món phao câu vịt béo ngậy.

3-Thầy cô thường giảng “đầu rồng” là ám chỉ nhà vua, nhưng theo tôi, Tú Xương là người cố thi đỗ để ra làm quan, tất nhiên phải thành thạo về kinh nghĩa, chiếu biểu, thơ phú, văn sách, thì không thể nào có ý tưởng “bài phong, phản đế” trong đầu được. Theo tôi, “rồng” ở đây liên quan đến sự tích cá hóa rồng, diễn tả ước mơ có cuộc sống đầy đủ, ấm no, hạnh phúc, có công danh sự nghiệp sau khi đã dồn hết tâm trí và sức lực để vượt qua khó khăn. “Rồng” theo nghĩa này rất thích hợp để chỉ những người vừa đỗ đạt, chuẩn bị ra làm quan sau một quá trình học tập và rèn luyên khó khăn.

4. Thầy cô giảng rằng các tân khoa phải cúi lạy ông Tổng đốc và quan Pháp nhưng tại sao Tú Xương không dùng từ “cúi” mà dùng từ “ngẩng / ngỏng”. mặc dù “ngẩng/ngỏng” và “ngoi” là động tác hướng về phia trên như nhau, do đó không đối nhau? Hành động “cúi” diễn tả sự chịu đựng nhục nhã chứ “ngẩng/ngổng” là sự vươn lên , không biểu lộ cái ý đó.

Theo tôi, mặc dù bà Đầm ăn mặc kín đáo (váy lê phết đất) nhưng thân hình phong nhũ phì đồn của bà đã làm ông Tú mê mẫn và rạo rực trong người đến nổi cái báu vật của ông không chịu nằm yên mà đòi ngỏng lên. Chính ông Tú, vốn là người ham mê gái gú, thoải mái đứng xem mới ngắm kỹ bà Đầm chứ các tân khoa đang làm lễ có lẽ không có thì giờ để làm việc ấy.

Từ “ngỏng” có lẽ hợp với ngôn ngữ của ông hơn là từ “ngẩng” vì Tú Xương không ngại nói tục. Ví dụ:
         
“Ðù cha, đù mẹ đứa riêng ai …”(Đùa Ông Hàn)
        
“Chiều khách quá hơn nhà thổ ế” (Gái Buôn)
        
“Mình tựa vào cây, cây chó ỉa” (Gái Góa Nhà Giàu)    
Dỉ nhiên, thầy cô không thể giảng “ngỏng đầu rồng” như tối viết mà chụp cho ông ta nhiều cái mũ đẹp hơn.


Có nên gọi bà Đầm là “đứa”, “nó”?

Trong bài “Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó” của tác giả Dương Kim Thoa đăng trên www.baodanang.vn, 01 thg 7, 2013 có đoạn như sau:             

“Trước hết, ông tạo nên được những tình huống, tình thế đặc biệt. Chẳng hạn trong câu “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt - Dưới dân ông Cử ngỏng đầu rồng”. Bà đầm vợ ông quan Tây đến dự lễ xướng danh thì ngồi trên ghế. Các ông quan thời đó ở dưới sân. Khi đọc xướng danh, phải lạy thiên tử. Khi người đỗ - tiêu biểu cho đạo học - lại ở dưới thấp và cúi lạy bà đầm - tiêu biểu cho bọn thống trị, ngồi ở chỗ cao thì Tú Xương lại chỉ lia cái ống kính của mình quay cận cảnh. Cái đứa ngồi ông chỉ quan tâm tới cái mông của nó. Còn người quỳ ở dưới, ông chỉ quan tâm tới cái đầu. Vậy tình thế ở đây là anh thống trị - anh bị trị, anh vô học - anh có học, cái đít vịt - cái đầu rồng, đó là cái đáng gây cười. Còn thái độ được biểu lộ qua chữ “ngỏng”, đó là chữ rất nghịch ngợm của Tú Xương. “Bà ngoi - ông ngỏng”, hình ảnh đó khiến sân khấu của lễ xướng danh thành ra như trò hề không ra đầu đuôi gì cả.”

Tôi xin có mấy nhận xét về một vài chi tiết trong  đoạn văn trên:

-Tác giả cho rằng: “Các ông quan thời đó ở dưới sân” là không đúng. Ở dưới sân là những ông vừa đổ cữ nhân đến dự lễ xướng danh, chưa được bổ chức quan nào hết.

-Tác giả viết: “khi đọc xướng danh phải lạy thiên từ” là không đúng. Cấp cao nhất đến dự lễ xướng danh là quan Tổng đốc,

-Tác giả viết: “Bà Đầm – tiêu biểu cho bọn thống trị” là không chính xác. Vợ các quan Tây chỉ đi theo chồng chứ không đảm nhận chức quan nào cả nên không thể đại diện cho chính phủ bảo hộ.  Tương tự như vậy: sau 1975, các sĩ quan VNCH bị tập trung cãi tạo còn  những bà vợ vẫn ở nhà bởi họ không có tội gì. vậy quan Tây mới có tội chứ bà Đầm được miễn tố.

Khi một ông Tổng thống nước ngoài đến thăm Việt Nam, ta tổ chức tiếp đón Tống thống chứ không phải  vợ  của ông ta bởi chỉ có Tống thống mới đươc đi trên thảm đỏ. Bà Đầm có mặt trong buổi lễ nhưng chỉ là người đi theo, không đại diện cho ai cả.  Các ông cử thực ra chỉ cúi lạy quan Tổng đóc và quan Tây chứ không phải cúi lạy bà Đầm.

-Tác giả viết: “Cái đứa ngồi ông chỉ quan tâm tới cái mông của nó.” Tú Xương sống dưới thời Pháp thuôc vẫn gọi vợ các quan Tây là bà Đầm, còn tác giả sống vào thời hiện đại lại dùng từ “đứa” và “nó”  trong một bài phê bình văn học có thể dùng trong nhà trường. Khi viết truyện có lời thoại, hoặc trong câu chuyện hằng ngày (informal), ta có thể dùng “thằng Pháp”, “thằng Tây”, “thằng Mỹ”, “chúng nó” v.v. nhưng trong sách lịch sử, trong các bài báo hay luận văn nghiêm túc (formal), ta nên dùng “người Pháp”, “người Tây phương”, “người Mỹ”, “họ” v.v. Riêng đối với bà vợ của Toàn quyền Doumer thì lại càng không nên dùng “đứa”, “nó” để gọi bà này vì về sau ông chồng bà trở thành Tổng thống Pháp thì bà ấy cũng trở thành Đệ nhất phu nhân, con cháu của họ có thể đang giữ chức vụ quan trọng trong chính phủ hay quốc hội Pháp, mà ta gọi bà cố, bà nội của họ là “đứa”, “nó” thì e rằng không hay về mặt ngoại giao.

-Tác giả viết: “Vậy tình thế ở đây là anh thống trị - anh bị trị, anh vô học - anh có học, cái đít vịt - cái đầu rồng, đó là cái đáng gây cười.” Tác giả không phân tích sâu nên người đọc không hiểu yếu tố gây cười là chỗ nào. “Anh vô học” là anh nào? Ở một buổi xướng danh của một hội đồng thi thì làm gì có người vô học tham dự. Chỉ có bà Đầm được nêu nhưng chi tiết nào cho phép tác giả gọi bà Đầm là người vô hoc? Không lẽ chỉ vì cái mông to mà trở thành người vô học?

***

Khi phê bình một bài văn hay bài thơ, người phê bình nên nhập vai tác giả của bài văn, bài thơ đó. Hãy tưởng tượng một người vừa thi hỏng lại có mặt trong buổi xướng danh người thi đổ sẽ phẩn uất, thất vọng, bực tức ra làm sao?

 Một người đàn ông được vợ nuôi để học hành nhưng không tập trung vào việc học, lại ăn chơi trác táng, mang tiền của vợ để nhậu nhẹt và gái gú thì đó là một người hư đốn, vô lương tâm, vô trách nhiệm đối với gia đình. Một người như vậy cho dù có chút văn tài nhưng có đáng tin cậy không?

Theo tôi, nếu có giới thiệu thơ Trần Kế Xương trong chương trình phổ thông thì cũng chỉ giới hạn ít thôi bởi tư cách của nhà thơ này không phải là “tấm gương sáng để học sinh noi theo”.



Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

LẠI CHUYỆN CÂY MƯNG



LẠI CHUYỆN CÂY MƯNG

Nguyễn Khắc Phước



Hơn chục năm trước, anh Phan Luận, một cán bộ kinh doanh thuộc Công ty  CP Cao su Đà Nẵng – DRC, thuê một chiếc tải nhỏ về quê An Đôn bên bờ sông Thạch Hãn mua gần chục cây Mưng mang vào tặng đồng nghiệp và bạn bè ở Đà Nẵng. Mặc dù tôi không biết anh Luận tặng bạn loại Mưng gì, nhưng bắt chước anh, tôi cũng về quê Lương Điền bên sông Ô Lâu bứng một cây Mưng nhỏ mang về trồng trên lề đường trước nhà.

Thấy tôi đang đào gốc cây, một bác bà con làng hỏi:

-Chú đào cây Mưng nầy mần chi rứa?

Nghe tôi nói ý định của mình, bác khuyên tôi:

-Chú nên tìm loại cây lá nhỏ mới có nhiều bông chớ thứ ni ít bông lắm.

Tôi giải thích với bác là tôi không rành cây kiểng, chỉ muốn về quê mang một cây gì đó vào trồng trước nhà cho có mùi vị quê hương, giống như người ta mang một nắm đất thiêng từ Jesusalem hay hay Bồ-đề-đạo-tràng về để thờ và kỷ niệm một chuyến hành hương.

Khoàng 5 năm sau, cây Mưng của tôi, được dân phố gọi là Lộc Vừng, đã lớn quá đầu người nhưng chẳng cho hoa nào, trong khi những cây Lộc Vừng của những nhà hàng xóm cao bằng nó thì đã cho bông xum xuê. Tìm hiểu, tôi mới biết bác người làng nói đúng. Chỉ cần đi quanh Đà Nẵng, cũng tìm thấy được ba loại Lộc Vừng. Loại lá nhỏ, loại lá vừa và loại lá lớn. Lá càng lớn thì bông càng ít nhưng càng to, ngược lại, lá càng nhỏ thì bông càng nhiều. Có người nói loại lá nhỏ mới chính là Lộc Vừng, còn các loại khác thì không phải, bởi hạt vừng (mè) mang hình ảnh nỏ bé. Người ta cầu mong được lộc nhỏ mà nhiều. Cây của tôi thuộc loại lá vừa nên sẽ cho bông ít. Không sao, bởi nó là cây Mưng chớ không phải Lộc Vừng và mục đích tôi trồng không phải để cầu lộc. Nếu đặt tên ghép với “lộc” thì nó là “Lộc đậu đỏ”, còn loại bông lớn là “Lộc đậu ngự” chớ không phải "Lộc mè".

Chỉ cần google một chút là có thêm thông tin:

Ở Việt Nam cây Lộc vừng có nhiều loại khác nhau, nhưng có dạng hình tương tự nhau với nhiều tên gọi khác nhau như: Lộc Vừng (Miền Bắc), Cây Mưng (Miền Trung), Cây Chiếc, Cây Rau Vừng (Miền Nam).

Loài Lộc Vừng phổ biến nhất: là Cây Chiếc hay Rau Vừng – Nam Bộ (Barringtonia Asiatica), có nguồn gốc từ môi trường sống ngập mặn trên bờ biển, hải đảo nhiệt đới của Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương. Loài này được trồng dọc theo đường phố cho mục đích trang trí và bóng mát. Ở Việt Nam, loài này mọc hoang ở vùng ven biển Nam Bộ và vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên.

Loài thứ hai là Cây Lộc Vừng Hoa Đỏ (Barringtonia Acutangula), loài này có nguồn gốc từ vùng đất ngập nước ven biển ở Miền Nam Châu Á  và Bắc Úc , từ Afghanistan về phía đông Philippines và đảo Queensland. Loài này là Cây Lộc Vừng được người Pháp du nhập và cho trồng ở quanh bờ hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội). Đây là loài cây có công dụng dược liệu quan trọng.

Loại thứ ba là Cây Lộc Vừng Hoa Trắng hay Hồng (Barringtonia racemosa ( L. ) Roxb.). Loài này còn có tên là Lộc vừng Hoa Chùm, Chiếc Chùm. Có tên thường gọi trong tiếng Anh là Stream Barringtonia, Freshwater Mangrove, Indian Oak, Indian Putat, Fish killer tree.

Thông tin trên về cây Lộc Vừng nghe có vẻ phức tạp như một bài sinh vật học, nhưng như vậy, cây Mưng của tôi cũng thuộc họ Lộc Vừng, người dân phố gọi nó là Lộc Vừng cũng không sai.

Một ngày đầu xuân, tôi lại về quê và ghé thăm anh Lê Dư ở Hải Trường, được chiêm ngưỡng hai chậu Mưng đang trổ lộc đẹp không tả được. Vòm lá xum xê khiến người ta nghĩ đến sự phồn vinh, sung sức, no đủ, hạnh phúc. Hai cây Mưng kiểng này đã được anh hái lá vào một thời điểm thích hợp trước tết để đúng ngày Ba Mươi tháng Chạp là hé nụ và sáng Mồng Một là đâm chồi tím hồng  khắp cả cây.

-Năm ni bác Dư phát tài chi chưa chớ Lộc đến đầy sân rồi? Không phải Lộc Vừng nhỏ bé mà Lộc “đậu ngự”, lộc to lắm đây nghe.

Nghe tôi nói vậy thì một bác, cũng đang ghé thăm anh Dư, nói:

-Cái tên Lộc Vừng thì hay nhưng mà tui không ưa chú nờ.

Hỏi răng bác không ưa cái tên đó, bác ấy nói:

-Bởi nó làm người ta liên tưởng đến câu “Vừng ơi! Mở ra” trong truyện Ali Baba và Bốn Mươi Tên Cướp.

Rồi bác tóm tắt truyện đó như sau:

Ali Baba là một tiều phu nghèo, chăm chỉ và không tham lam, người anh trai tên là Kasim. Một hôm, tình cờ chàng phát hiện ra một cái hang bí mật chứa đầy kho báu quý giá của một băng cướp, với câu thần chú để mở và đóng cửa hang là: "Vừng ơi! Mở ra!" và "Vừng ơi! Đóng lại". Nhờ số của cải lấy từ hang bí mật về, chàng trở nên giàu có. Kasim được em mình kể lại tất cả sự việc liền nổi lòng tham, tự đi đến hang một mình mà không cần Ali Baba giúp đỡ. Vì choáng ngợp trước vàng bạc, của cải được phơi bày ra trước mắt mà Kasim đã quên mất câu thần chú mở cửa hang để đi về, do đó, bị băng cướp giết chết thành sáu mảnh. Việc khâm liệm Kasim được Morgiana (người được vợ chồng Ali Baba đem về nuôi từ bé và được coi như con đẻ) khéo léo thu xếp như với một cái chết bình thường để không ai nghi ngờ gì. Về phần băng cướp, sau khi biết hang bí mật đã bị lộ, tên tướng cướp lần lượt cử người ráo riết truy tìm cho bằng được tung tích của kẻ đã khám phá ra bí mật này. Nhờ mưu trí của Morgiana nên bọn cướp lần lượt bị tiêu diệt cho đến tên cuối cùng. Ali Baba tổ chức đám cưới cho con trai mình với Morgiana và từ đó cả gia đình họ sống rất hạnh phúc.

Bác nói tiếp: - Lộc đây vốn là của cải do sức lao động của người dân mà bọn cướp đã dùng vũ lực để cướp lấy. Một người không lao động gì cả, chỉ ao ước được lộc, dù đó là kết quả của cướp giựt, bóc lột, tham nhũng, quà cáp, thì người đó là kẻ tham lam, vô lương tâm bởi nếu mình được và sung sướng bao nhiêu thì người ta mất và đau khổ bấy nhiêu. Lộc là do nghiệp lành hoặc sức lao động mà có chớ không phải chờ của ăn cướp. Trong câu chuyện này chẳng thấy Ali Baba dùng của cải để làm việc thiện.

Truyện Ali Baba và Bốn Mươi Tên Cướp rất phổ thông, nhưng không biết có bao nhiêu người liên tưởng như bác nói. Dù sao, nhận xét của bác cũng khá thú vị.

Tôi nói: Ngày xưa vì còn khiêm tốn nên người ta lỡ đặt tên cây này là Lộc Vừng, chớ bây giờ, vào thời đại vật chất này, nếu đặt tên lại, người ta sẽ gọi nó là Lộc Hằng Hà, lộc nhiều như cát sông Hằng mới thỏa đó bác ạ.

NKP








Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

HÌNH ẢNH CON CHÓ TRONG NGỤ NGÔN CỦA AESOP

HÌNH ẢNH CON CHÓ TRONG NGỤ NGÔN CỦA AESOP
Nguyễn Khắc Phước

Aesop (phát âm tiếng Việt như là Ê-dốp, khoảng năm 620-564 trước CN) là một nhà văn Hy Lạp. Tư liệu về cuộc đời của ông không rõ ràng lắm và không có bản viết tay nào của ông còn tồn tại đến ngày nay nhưng ông được xem là tác giả của rất nhiều câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng trên thế giới, đã được truyền miệng và được sưu tập qua nhiều thế kỷ và bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. (Theo Wikipedia.)
Có một trang web sưu tập được 655 truyện, trong đó, khoảng 20 truyện có nhân vật là chó nhà hoặc chó sói.
Truyện Con Chó Và Cái Bóng là một trong những truyện phổ biến ở Việt Nam có lẽ qua bản văn vần của Jean De La Fontaine. 
Chuyện như thế này: Một con chó kiếm được một miếng thịt và ngoặm miếng thịt mang về nhà ăn cho thoải mái.  Trên đường về nhà, nó phải đi qua một tấm ván bắc qua một con suối.  Khi đang đi trên tấm ván, nó nhìn xuống và thấy bóng của chính nó phản chiếu bên dưới. Nghĩ rằng đó là một con chó khác với một miếng thịt khác, nó quyết định lấy cho được miếng thịt đó. Vậy nên nó đớp vào cái bóng ở trong nước, nhưng khi nó há miệng thì miếng thịt trong miệng nó rớt ra và rơi xuống nước, không thể tìm lại được.
Thông điệp của truyện: Hãy nhớ rằng bạn sẽ đánh mất cái có thật khi cố chộp lấy cái bóng.
Nói cách khác: bạn sẽ đánh mất bản thân mình khi chạy theo ảo ảnh.
Thành ngữ “Thả mồi bắt bóng” có lẽ bắt nguồn từ truyện này. “Đứng núi này trông núi nọ” cũng có nghĩa tương tự. Hãy biết mình đang có cái gì và bằng lòng với cái đó, đừng có tham lam những cái xa vời để rồi đánh mất tất cả. Đó cũng là bí quyết trong việc kinh doanh và giữ hạnh phúc gia đình.
Nhân dịp mừng Xuân Mậu Tuất, chúng tôi xin kể hầu quý vị thêm hai truyện sau để quý vị đọc cho con cháu nghe trong những ngày họp mặt gia đình.
CHÓ NHÀ VÀ CHÓ SÓI
Vào một đêm trăng, một coi chó sói gầy và đói gặp một con có nhà mập mạp, khỏe mạnh.  Sau khi chào xã giao, chó sỏi hỏi: Làm sao mà bạn trông có vẻ béo tốt như vậy? Có phải nhờ thức ăn hợp với khẩu vị của bạn hay không?  Còn tôi thì ngày đêm phải lo kiếm sống, chỉ mong sao thoát được cảnh đói khát.
Chó nhà nói: Chà, nếu bạn muốn có sức khỏe như tôi thì cứ làm theo tôi. Chó sỏi hỏi: Vậy tôi phải làm gì?  Chó nhà nói: Chỉ mỗi việc bảo vệ nhà ông chủ và giữ trộm ban đêm. Chó sói nói: Thú thiệt thời gian này tôi rất khó khăn. Mưa và sương giá khiến cuộc sống trong rừng rất cực khổ. Nếu được ở nơi ấm áp và ăn uống no đủ thì việc trao đổi ấy cũng không tệ lắm. Chó nhà nói: Vậy bạn chỉ cần theo tôi là xong.
Khi chúng đang chạy cùng nhau, chó sói thấy một vệt lạ trên cổ chó nhà bèn tò mò hỏi đó là cái gì. Chó nhà nói: Ồ, không có chi. Chó sói gặng hỏi: Cứ cho tôi biết đi mà.
Chó nhà nói: Chuyện nhỏ thôi. Đó là cái nịt cổ để buộc cái xích vào. Chó sói ngạc nhiên kêu lên: Xích hả? Vâỵ bạn không được đi lại tự do như bạn muốn hả? Chó nhà nói: Không hoàn toàn như vậy. Có lẽ họ thấy tôi có vẻ hơi hung dữ nên ban ngày họ buộc tôi lại, nhưng bảo đảm với bạn là tôi hoàn toàn được tự do vào ban đêm. Ông chủ cho tôi ăn bằng dĩa riêng và mấy người giúp việc thường cho tôi món ngon nữa. Mọi người đều thích tôi nên không có vấn đề gì hết. Ồ, bạn đi đâu vậy? Chó sói nói: Thôi nhé, chúc bạn ngủ ngon. Được bạn mời món ngon, nhưng với tôi, thà một mẩu bánh mì khô mà được tự do còn hơn bữa tiệc sang trọng của nhà vua mà bị xích.
Thông điệp của truyện: Thà đói mà tự do còn hơn no mà nô lệ. (*)
Thông điệp trên là của Aesop nhưng người kể lại truyện này có lời bình thêm như sau:
Nếu hiểu tự do là không bị ràng buộc bất cứ thứ gì thì đó là thứ tự do không bao giờ có. Con chó nhà bị ràng buộc bởi công việc và sợi xích thì con chó sói bị ràng buộc bởi thời tiết và đói khát. Tự do chỉ ở mức tương đối.
Mỗi người do hoàn cảnh, khả năng, tâm tính, sức khỏe và sở thích riêng mà chọn lựa cho mình một nơi, một nghề, một lối sống thích hợp, không ai giống ai. Người thành phố cho rằng cuộc sống ở thôn quê hay miền núi khó khăn, cực khổ, ngược lại, người ở những vùng đó lại chê thành phố là ô nhiểm, ồn ào, không tình cảm. Ngay cả sự tự do hay hạnh phúc, không phải ai cũng có quan điểm giống nhau.

CON CHÓ HUNG DỮ
Có một con chó hung dữ và nghịch ngợm đến nỗi chủ nó phải buộc một cái chuông nặng vào cổ nó để ngăn nó cắn người và làm phiền hàng xóm.
Con chó lấy làm hãnh diện về cái chuông đó và cứ đi diễu quanh chợ, vừa đi vừa lắc chuông ẩm ỹ để gây chú ý.
Bạn nó, một con chó lém lĩnh, nói thầm vào tai nó: Nhỏ nhỏ thôi, đừng ầm ỹ quá. Cái mầy đeo không phải để thưởng công gì mà là dấu hiệu của sự ô nhục.
Thông điệp của truyện: Người ta thường nhầm lẫn tai tiếng với danh tiếng và sẵn sàng làm những việc điên rồ để được nhiều người chú ý.
Lời bàn thêm của người kể lại: Câu chuyện này được kể khoảng 2800 năm trước tại Hy Lạp nhưng đến nay người ta vẫn thường xuyên cố tình làm những chuyện trái đời, tạo ra xì-căng-đan (scandal) để được nổi tiếng, nhất là trong giới showbiz. Khi người ta có nhiều tiền mà thiếu cái chuẩn mực đạo đức và văn hóa thì sẽ nảy sinh ra vô vàn những thói hư tật xấu. 
NKP
*http://www.aesopfables.com/aesop1.html / The Dog and the Wolf / Moral of the story: Better starve free than be a fat slave.

Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017

CHUYỆN CÂY MƯNG - Tạp bút


Quê tôi có một cái đầm, gọi là đầm Miếu Cô.  Ngày xửa ngày xưa có một cô gái ngày ngày cầm dũi ra đầm dũi cá, rủi thay bị sẩy chân xuống lầy mất tăm mất tích. Nghe nói cô gái linh thiêng lắm nên người ta xây miếu bên cạnh đầm để thờ. Quanh miếu dần dần mọc lên một rú rậm, hầu hết là cây mưng. Mưng thích mọc bên bờ nước và chúng phát triển rất nhanh, cây nào cũng cao lớn. Người dân làng cần củi đốt nhưng họ không dám vào chặt mưng vì sợ cô bắt. 

Có một con suối chảy vào đầm phía tây và chảy ra phía đông, vào mùa hè thường trôi lềnh bềnh những đám hoa mưng giống như hội hoa đăng, đẹp không thể tả. Bọn con nít giữ trâu có đứa lấy bông mưng kết thành vòng hoa quàng cổ. 

Cái đầm miếu cô và rú mưng  đã được vài trăm tuổi. Đó là khu vực linh thiêng ít ai dám xâm phạm. 

Thế nhưng chẳng có gì trên đời này mà tồn tại mãi. 

Cách đây chừng hai chục năm, tôi về thăm quê, định ra con suối ngày xưa để câu cá, thì hỡi ôi, không hiểu vì cớ gì người ta đã đập nát miếu cô từ lúc nào. Rú mưng không còn linh thiêng nữa và bà con dân làng tha hồ vào chặt cành lấy củi. Chặt cành vì cây mọc trên đất lầy, nếu lấy gốc thì biết phơi bao giờ cho khô. 

Những cây mưng có vài trăm tuổi có sức sống dẻo dai  đến kì lạ. Càng chặt chúng càng đâm nhánh mới. Lại chặt, lại đâm nhánh mới. Chính vì thế nên cây mưng có hình dáng khúc khỷu, uốn lượn tự nhiên, biến thành những cây bon-sai cổ thụ lúc nào không hay. 

Có lần gần tết, tôi ngồi uống cà phê bên hè phố thấy người ta kéo cây đi bán,  tôi hỏi mấy thằng bạn: Cây gì trông giống cây mưng ở quê tao vậy, tụi bay? Tụi nó cười ha hả dễu cợt: Cây lộc vừng  sang trọng đáng tiền triệu của người ta mà mầy nói cây mưng cây mững gì, thằng này quê quá. Tôi dòm kỹ thì đúng là cây mưng. Tôi nghĩ bụng, chuyến này mình về quê bứng vài cây mưng ra phố bán thì chắc đủ tiền tiêu tết. 

Nghĩ là về quê liền, thế nhưng khi về đến nơi, hỏi ra thì rú mưng đã bị bứng sạch không còn lấy một gốc, chỉ còn trơ cái đầm nông choèn trông rất vô duyên. Bà con kể rằng có mấy người trên tỉnh về săn lùng cây kiểng vào đầm lén đào gốc mưng nhưng bị người đốn củi chặn lại. Họ trả giá rất cao và lúc này chính dân làng đua nhau đào gốc bán cho họ. Họ không gọi những cây này là cây mưng mà là lộc vừng. 

Thế là hết miếu cô với những câu chuyện linh thiêng, hết rú mưng rậm rạp vang lừng tiếng chim và tiếng kêu của những con cuốc mùa hè, và thôi rồi con suối đầy hoa mưng đỏ trôi lềnh bềnh. 

Đi đến những nhà hàng hoặc những quán cà phê sang trọng, người ta lại trông thấy những cây lộc vừng phơi thân trần sần sùi, đứng rất điệu đàng bên những hòn non bộ với con suối giả, nước chảy róc rách, trên đầu nguồn, hơi nước phun mờ ảo như cảnh thần tiên. Cây mưng lên đời, đã không còn cái chân quê, dường như đang làm bộ làm tịch như những cô gái làng lên tỉnh bán bia mặc váy mini ngắn cũn cỡn, cũng đẹp và khêu gợi chẳng kém gì ai, vừa rót bia vừa xoay xoay chai rất điệu nghệ. Hiếm khi người ta thấy cây mưng ở phố trổ hoa rộ như hồi còn ở đồng quê nếu nó không được trồng bên bờ sông hoặc bờ hồ, cũng như hiếm khi người ta thấy các cô gái bán bia bưng miệng thẹn thùng khúc khích cười duyên như khi ngồi giặt áo bên bến sông. 

Những cây mưng quê âm thầm bên đầm được người thành phố mang về tỉa tót, những cô gái quê chân lấm tay bùn được thoa phấn son, ăn mặc khêu gợi, đươc huấn luyện để biến thành món hàng làm giàu cho những người biết cách để móc túi những gã gốc nhà quê mới giàu lên nhờ có công ăn việc làm béo bở tại thành phố. 

Chuyện miếu cô tưởng như vậy là hết nhưng tháng Ba âm lịch vừa rồi, tôi nhận được giấy mời từ quê gởi vào: "Trân trọng mời anh về dự lễ khánh thành Miếu Cô vừa được xây dựng xong."