Thứ Năm, 15 tháng 6, 2023

Truyện ngắn: HOA HỒNG TRẮNG - Nguyên tác: The White Rose - Tác giả: Anula Aradhya

 HOA HỒNG TRẮNG

Nguyên tác: The White Rose

Tác giả:  Anula Aradhya (Ấn Độ)

Đăng trên: soulveda.com

09 Tháng Mười 2021

 

 

Điện thoại của Aditi đổ chuông liên tục. Lại là bố cô ấy. Nhưng cô không có tâm trạng để nói chuyện. Cha mẹ cô sắp ly hôn và cô không biết phải làm gì ngoài việc bỏ nhà ra đi.

 

Đắm chìm trong tuyệt vọng, cô lang thang trên đường phố. Khuôn mặt xanh xao và đôi mắt ngấn nước của cô biểu lộ một tâm trạng đau buồn. Làm sao mà họ lại gây ra chuyện này? Suốt những năm kết hôn đó, tình yêu của họ thế nào? Hàng triệu câu hỏi chạy qua tâm trí cô nhưng có một điều rõ ràng:  Không có thứ gọi là tình yêu đích thực.

 

Aditi nhắn tin nhanh cho mẹ và bắt xe buýt đến nhà dì Rashmi. Bà Rashmi đang ngồi lặng lẽ uống trà trên ghế sofa thì Aditi đột ngột xuất hiện. “Sao ba mẹ con lại có thể bỏ nhau dễ dàng như vậy? Thậm chí họ không nghĩ về con sao?”  Đôi mắt cô đẫm lệ. “Ước chi dì có thể trả lời con được, Aditi yêu quý. Trong cuộc sống, đôi khi mọi thứ không xảy ra như ý muốn,” Bà Rashmi nói trong khi ôm cô: “Cứ ở lại đây vài ngày. Con có thể giúp quản lý cửa hàng hoa của dì.”

 

Biết đâu đây là dịp để làm xao lãng nỗi buồn! Aditi đồng ý ngay lập tức.

 

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi không hề dễ dàng đối với cô gái 22 tuổi. Cô vẫn còn đau khổ vì sự chia ly của cha mẹ mình. Nhưng nhiều ngày trôi qua, những bông hoa đã làm nên điều kỳ diệu và mang lại nụ cười cho cô.

 

 

Cô không chuyện trò nhiều với khách hàng ngoại trừ vài câu cho vui. Dì của cô có một vài khách hàng thường xuyên, chẳng hạn như một doanh nhân hầu như ngày nào cũng mua một bó hoa đắt tiền; một phụ nữ trẻ thường mua mỗi ngày một bó hoa hồng; một bà mẹ thường thảo luận khá lâu với dì của cô về vườn ươm. Trong số họ, có một ông già ăn mặc kỳ dị, sáng nào ông cũng chỉ mua một bông hồng trắng.

 

Một hôm, khi Aditi đang ở quầy thu ngân, ông lão mua thêm một bông hồng trắng nữa. Khi trả lại tiền thừa, cô tò mò hỏi ông: “Thưa ông, nếu ông không phiền, cháu có thể hỏi ông tại sao ngày nào ông cũng chỉ mua một bông hồng trắng? Có rất nhiều bông hoa đẹp khác trong cửa hàng này.”

 

Ông lão mỉm cười: “Tất nhiên, tất cả đều đẹp. Nhưng hoa hồng trắng là thứ vợ tôi thích nhất. Bà ấy đã từng trồng hoa hổng trắng trong vườn của chúng tôi trước khi bị hôn mê vì một tai nạn.”

 

Ông ấy tiếp tục: “Tôi đã mua một bông hồng trắng vào buổi hẹn hò đầu tiên của chúng tôi. Cho dù các bác sĩ không mấy hy vọng, nhưng tôi có niềm tin rằng một ngày nào đó bà ấy sẽ tỉnh lại. Và khi ấy, bà sẽ thấy mình được những bông hoa yêu quý  bao quanh.”

 

Aditi vô cùng ngạc nhiên. Tình yêu đích thực là có thật, cô nghĩ vậy khi hân hoan ngắm nhìn bông hồng trắng tuyệt đẹp trên tay ông lão.

 

Nguồn: https://www.soulveda.com/short-stories/love/the-white-rose/

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2023

Truyện ngắn: HỌC CÁCH TỪ CHỐI - Joy Rajat Das

 SOULVEDA là website của một nhóm những cây bút trẻ Ấn Độ. Nội dung sáng tác của họ “tập trung vào hạnh phúc, phúc lợi và sự thức tỉnh tinh thần”, “khuyến khích những cách sống lành mạnh và hài hòa”, “nuôi dưỡng một lối sống toàn diện.”, giúp cho mỗi cá nhân có cuộc sống bình an và khỏe mạnh, xã hội hạnh phúc và thế giới hòa bình. Ngoài ra họ còn dự định giới thiệu tác phẩm của các nhà tư tưởng lớn của Ấn Độ.

 

Tên trang web SOULVEDA (tạm dịch: Tinh Thần Vệ Đà) có vẽ họ muốn viết về nền văn minh Ấn Độ Giáo. Nội dung khá phong phú nhưng vì chúng ta chưa đọc hết nên chưa bàn ở đây.

 

Riêng mục truyện ngắn có các nội dung sau:

-Tình yêu (Love)

-Các mối quan hệ  (Relationships)

-Gia đình (Family)

-Động lực (Motivation)

-Những bài học từ cuộc sống (Life lessons)

 

 

Truyện ngắn sau thuộc nhóm Những bài học từ cuộc sống.

 

 

HỌC CÁCH TỪ CHỐI

Truyện ngắn của Joy Rajat Das

 

“Này, em có thể đọc và sửa chửa tài liệu này cho chị được không? Chị phải gặp một người bạn,” Gina hỏi Judy khi cô nhặt chiếc túi của mình lên.

 

“Dạ được,” Judy ngập ngừng gật đầu.

 

“Cảm ơn Judy. Bạn là một cô em đáng yêu, cô ấy nói và rời đi.

 

Sau khi hoàn thành công việc của mình, Judy xem tài liệu của Gina. Chúa ơi, nó có 30 trang! Cô kêu lên.

 

Cô ấy đã mất hai giờ để hoàn thành việc sửa chửa. Lúc đó, trời đã tối. Cô mệt mỏi về đến nhà và đi thẳng lên giường, bỏ bữa tối một lần nữa.

 

Judy là người mới của công ty. Mong muốn tạo ấn tượng tốt, cô hiếm khi từ chối bất cứ ai. Cô đã giúp đỡ công việc của nhiều người khác, cập nhật các thông tin mà họ cần. Cô đã làm mọi thứ mà các đồng nghiệp của cô yêu cầu cô làm để cô không cảm thấy lạc lõng.

 

Một ngày nọ, Nia, sếp của Judy thấy cô đang ngồi một mình ở bàn làm việc. Giờ làm việc đã kết thúc và mọi người đã ra về.

 

 

Nia hỏi cô đang làm gì vào giờ này. Khi Judy nói với bà ấy rằng cô đang làm giúp người khác, Nia rất bực mình.

 

"Để lại đó. Đóng máy tính xách tay của em lại và đi với tôi,” Nia nói.

 

Cô đưa Judy đến một nhà hàng. Khi họ ăn, Nia nhìn Judy và hỏi, “Tại sao em lại làm điều này? Tôi chắc chắn rằng chuyện này đã từng xảy ra nhiều lần rồi.”

 

“Vâng, thưa bà,” Judy cố nhìn đi chỗ khác.

 

“Gọi tôi là Nia,” bà mỉm cười. "Em vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi."

 

“Em không muốn họ coi thường em,” Judy trả lời.

 

"Tôi hiểu em muốn nói gì. Tôi đã từng giống như em. Một người phụ nữ chỉ biết vâng lời. Tôi thường “dạ, vâng”' với mọi yêu cầu, nghĩ rằng người khác sẽ có ấn tượng tốt về mình. Thay vào đó, có lần tôi gần bị sa thải. Khi đó, sếp của tôi đã nói với tôi những gì tôi đang nói với bạn bây giờ. Hãy học cách từ chối,” Nia nhấn mạnh.

 

“Dạ, em sẽ nghe lời, chị Nia. Cảm ơn chị. Cứ đồng ý mãi thế này thực sự đang làm em kiệt sức,” Judy nói.

 

"Tất nhiên rồi! Nhưng đừng nói không với sếp của em,” cả hai cùng cười.

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2023

Truyện cổ tích: TẠI SAO MÈO LUÔN RỬA MẶT SAU KHI ĂN - Jean De Bosschère




Tại sao mèo luôn rửa mặt sau khi ăn

Tác giả: Jean De Bosschère

 

Ngày xưa, một con mèo bắt được một con chim sẻ, nó liếm môi chuẩn bị một bữa ăn ngon lành. Sau khi chơi với chim sẻ một lúc, như loài mèo thường làm, nó định ăn thì chim sẻ nói.

 

“Kính tâu Hoàng đế,” chim sẻ nói, “và tất cả gia đình của ngài, không bao giờ bắt đầu bữa ăn mà không tắm rửa sạch sẽ trước. Mọi người đều biết rằng đó là phong tục trong xã hội lịch sự.”

 

“Đúng đấy,” mèo trả lời, “ta sẽ làm như mèo Hoàng đế thường làm!” Nói rồi nó thả chim sẻ ra và bắt đầu rửa mặt. Cảm thấy tự do, chim sẻ bay đi và đậu an toàn trên cành cây ngoài tầm với.

 

“Thật uổng công uổng của,” mèo lẩm bẩm, “tại vì ta quá dễ dàng bị đánh lừa.”

 

Và kể từ đó, mèo luôn rửa mặt sau bữa ăn.

 

 


Sơ lược về tác giả

 

Jean de Bosschère (1878 – 1953), là tác giả và họa sĩ người Bỉ. Mặc dù được biết đến với những tiểu thuyết dành cho người lớn gây tranh cãi, ông cũng đã viết và vẽ minh họa cho tuyển tập truyện Bỉ, Beasts and Men: Folk Tales Collected in Flanders (Quái vật và Con người: Truyện dân gian được sưu tầm ở Flanders.)

 

Truyện dân gian và truyện cổ tích của ông là những truyện kỳ quái về động vật và con người dành cho mọi lứa tuổi.

 

Nguồn: https://fairytalez.com/

 

 

Why Cats Always Wash After Eating

Jean De Bosschère

 

Along time ago a cat caught a sparrow, and licked his lips in anticipation of the delight he would feel in devouring it. After playing with it for a time, as cats will, he was going to eat it, when the sparrow spoke to him.

 

“The Emperor’s cat,” said the sparrow, “and all his family, never begin a meal without washing themselves first. Everybody knows that such is the custom in polite society.”

 

“Really,” answered the cat, “well, I will do as the Emperor’s cat does!” And he let go the sparrow and began to wash his face. Feeling itself free, the sparrow flew away, and alighted safely on the branch of a tree well out of reach.

 

“It serves me right,” muttered the cat, “for being so easily taken in.”

 

And ever since that time cats have always washed themselves after their meals.

 

(https://fairytalez.com/)

 

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

VỢ CHỒNG ANH NÔNG DÂN NẠNH NHAU VIỆC ĐÓNG CỬA - Truyện cổ Pakistan của Mục sư Charles Swynnerton


 







VỢ CHỒNG ANH NÔNG DÂN NẠNH NHAU VIỆC ĐÓNG CỬA 

Truyện cổ Pakistan

Nguyễn Khắc Phước kể.



Ngày xửa ngày xưa, có một cặp vợ chồng nông dân già và nghèo, sau khi làm xong công việc trong ngày và ăn bữa tối thanh đạm, họ ngồi bên đống lửa, thì giữa họ nảy sinh tranh cãi xem ai nên đóng cánh cửa đã bị một cơn gió thổi tung.

"Bà đóng cửa lại!" chồng nói.

"Ông đóng cửa đi!" vợ nói.

“Tôi sẽ không đóng cửa, và bà cũng không,” người chồng nói; "Nhưng ai nói lời đầu tiên thì người đó phải đóng cửa lại."

Đề nghị này khiến bà vợ vô cùng hài lòng, và thế là cặp vợ chồng già yên lặng đi ngủ.

Vào nửa đêm, họ nghe thấy một tiếng động, nhìn ra ngoài, họ thấy một con chó hoang lẻn vào phòng rồi lùng sục trong chạn để tìm thức ăn vốn rất ít ỏi của họ. Tuy nhiên, cả hai đều không thốt ra lời nào, Và con chó, sau khi đánh hơi tìm kiếm và đánh chén no nê, rồi đi ra khỏi nhà.

Sáng hôm sau, bà vợ mang thóc sang nhà hàng xóm để xay thành bột.

Khi vợ vắng mặt, một người thợ cắt tóc dạo đi ngang trước nhà và được ông chông đưa tay ra hiệu biểu vào hớt. Vừa bước vào, người thơ hỏi: “Sao bác lại ngồi đây một mình thế?”

Người nông dân chẳng nói chằng rằng. Người thợ hớt tóc cạo đầu ông ta, nhưng ông vẫn không nói; Tiếp theo, anh cạo một nửa bộ râu và một nửa ria mép, nhưng người chủ nhà vẫn không thốt ra một tiếng nào. Sau đó, anh phủ lên khắp người ông một lớp sơn đen như muội đèn trông gớm ghiếc, nhưng người nông dân vẫn im như thóc.

“Ông này bị bùa mê rồi!” người thợ cắt tóc kêu lên, và anh ta vội vã ra khỏi nhà.

Anh ta vừa đi khỏi thì người vợ trở về. Thấy chồng có bộ dạng quá kỳ cục, bà bắt đầu run rẩy và thốt lên: “Trời ơi! Khốn kiếp, ông làm cái quái gì vậy?”

“Bà đã nói lời đầu tiên rồi nhé,” người nông dân nói, “vậy bà hãy đi đóng cửa lại.”


***

Nguồn: The Farmer, His Wife and the Open Door

Tác giả: Charles Swynnerton (1843-1923), Mục sư tuyên úy tại Ấn Độ.

Đăng trên Fairytalez.com





&&&

Tóm tắt tiểu sử tác giả:


Mục sư Charles Swynnerton (1843-1923) là Tuyên úy cao cấp ở Ấn Độ dưới thời Anh quốc đô hộ, là tác giả của hai cuốn sách về văn hóa dân gian. Một tuyển tập truyện dành cho trẻ em “Đêm Ấn Độ -Truyện Giải trí hoặc Truyện Dân gian ở Bắc Ấn” (Indian nights' entertainment, or, Folk-tales from the Upper Indus). Ông cũng là tác giả của “Những Chuyện Lãng Mạn từ Punjab” (Romantic tales from the Punjab).


Mục sư Swynnerton đã dành nhiều năm để thu thập truyện cổ dân gian từ văn hóa Ấn Độ bằng cách thường ngồi bên đống lửa, lắng nghe người bản địa kể chuyện


Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2023

NGƯỜI THỢ SĂN VÀ CON GẤU - Caitlin Timmerman

 


Caitlin Timmerman

Người Thợ Săn và Con Gấu



Một ngày cuối tháng 11, khi Gấu Pyotr đang ngồi ăn bữa tối với bánh mì đen và đậu, cửa trước bật mở và một người đàn ông bước vào. Người đàn ông giậm đôi ủng lông thú của mình trên tấm thảm dành cho khách để rũ bỏ lớp tuyết cuối tháng 11, và anh ta cởi chiếc mũ len màu xanh dương ra. Rồi anh nhìn thấy Pyotr đang ngồi ở bàn, chân phải đang nắm chặt một thìa đậu.


"Tốt hơn là mày nên chạy đi," người đàn ông nói, nhấc khẩu súng trường lên. "Tao là thợ săn."


Tốt hơn là mầy nên chạy đi,” Pyotr trả lời, cười toe toét để lộ hàm răng. "Tao là một con gấu."


Người thợ săn từ từ đặt súng xuống.


Mầy không có quyền ở đây,” anh nói. "Đây là Cabin của Hướng dẫn viên. Nó dành cho con người."


"Mầy không phải là Hướng dẫn viên." Pyotr xé một miếng bánh mì đen và bắt đầu nhai. "Mầy là thợ săn."


Vai người đàn ông rũ xuống và anh ta dựa vào cột cửa.


"Thành thật mà nói, tao không phải là thợ săn. Tao chưa bắt được gì để ăn kể từ khi rời khỏi nhà. Tao mệt và đói." Anh liếc nhìn chiếc bàn trải ngay ngắn của con gấu. "Này - mày còn bánh mì và đậu nữa không?"


Pyotr quả thực có rất nhiều bánh mì và đậu: đó là ngày đầu tuần và nó vừa làm một mẻ mới. Tuy nhiên, nó không biết có nên chia sẻ thức ăn của mình với một người thợ săn.


"Làm ơn," người đàn ông cầu xin, và sau đó anh ta đổ sụp xuống chiếc ghế xích đu của Pyotr.


"Trông mầy khá đói và mệt mỏi,” Pyotr nhận xét. “Nếu mầy hứa sẽ chỉ ở lại một đêm, tao có thể chia sẻ thức ăn của tao với mầy. Nhưng chỉ một lần này thôi!"


"Tao sẽ rời đi vào buổi sáng," người thợ săn hứa.


*


Nhưng qua đêm, tuyết rơi dày gần 3,5 tấc trong khu rừng hoang dã của Siberia, và mọi con đường đều bị chặn.


Tao nghĩ là mầy sẽ phải ở lại ăn sáng,” Pyotr gầm gừ.


Họ có giăm bông và bánh nướng xốp việt quất, đậu còn sót lại, cùng với một bình trà, vì bên ngoài trời lạnh. Sau khi ăn sáng, người thợ săn rút chiếc kèn harmonica của mình ra.


"Mầy cũng chơi thứ này được hả?" Pyotr kêu lên.


"Chỉ có bài 'O Susannah'," người thợ săn trả lời, "Nhưng tao chơi bài này được lắm."


"'O Susannah' là ca khúc yêu thích của tao," Pyotr nói.


Vì vậy, họ chơi song ca bài "O Susannah" cho đến bữa trưa. Vào buổi chiều, tuyết vẫn còn quá dày, nhưng Pyotr nghĩ sẽ không hại gì nếu tiến ra phía trước và làm những thiên thần tuyết: thế là họ cùng làm, ngồi phịch xuống lớp tuyết mịn và khua tay múa chân qua lại. Người thợ săn, tên là Nikolai, cười và nói rằng thiên thần của Pyotr trông giống một con quái vật; Pyotr nói rằng thiên thần của Nikolai trông giống một con sâu. Sau đó, người thợ săn làm một người tuyết, đội chiếc mũ len màu xanh dương của mình lên đó, và nhét khẩu súng săn của mình vào cánh tay tuyết của nó. Pyotr làm một con gấu tuyết to bằng người thật nhe răng tuyết gầm gừ bên cạnh người tuyết của Nikolai.


"Thật là vui," người thợ săn nói vào buổi tối khi anh ta sắp cho gọn một bát đậu hâm nóng và bánh mì đen. "Tao có thể ở lại một đêm nữa không?"


*


Tuyết rơi đều đặn trong các khu rừng hoang dã ở Siberia trong ba tuần rưỡi. Ngày nào cửa sổ của Pyotr cũng đóng một lớp băng mới dày đặc; những bãi tuyết mỗi ngày càng cao hơn trước cánh cửa màu xanh lá cây của ngôi nhà tranh nhỏ ấm cúng. Bây giờ không còn nghi ngờ gì về việc Nikolai sẽ đi đâu cả. Pyotr và người thợ săn học ba bài kèn harmonica mới và ngẫu hứng biến tấu 20 bài 'O Susannah'. Nikolai đã học cách làm bánh mì đen và đậu, đồng thời dạy Pyotr cách biến một số quả việt quất của mình thành một loại mứt lỏng, sẫm màu.


Một buổi tối sau khi đã dọn dẹp xong xuôi các món ăn, Pyotr hỏi,


"Tại sao mầy săn gấu?"


Nikolai vừa suy nghĩ vừa xoay tách trà của mình trên đĩa.


"Tại sao mầy tấn công người?"


"Tao không thường xuyên. Chỉ khi tâm trạng tao không tốt thôi."


"Chà, nếu mầy không tấn công chúng tao, chúng tao sẽ không săn lùng chúng mầy."


Người thợ săn và con gấu ngồi im lặng một lúc, nhìn tuyết rơi xuống, rơi xuống, rơi xuống như những chiếc lông vũ sau một trận chiến lớn bằng gối.


"Tao rất bực mình vì những người thợ săn chúng mày cứ cầm súng đi loanh quanh trong rừng của tao. Mầy sẽ cảm thấy thế nào nếu ai đó vào nhà mầy, gây ra những tiếng nổ lớn và giết chết mọi thứ?"


"Tao nghĩ là không tốt lắm," Nikolai thừa nhận.


Pyotr uống xong tách trà thứ ba và ngồi nhìn người thợ săn bằng đôi mắt nâu ác độc của mình.


"Nghe này," Nikolai đột ngột nói, "Tao không thể buộc những người thợ săn khác làm như tao . Nhưng về phần tao, tao hứa với mầy rằng tao sẽ không bao giờ bắn một con gấu nào nữa."


Nếu vậy thì tao hứa với mầy rằng tao sẽ không bao giờ tấn công người nữa," Pyotr trả lời.


"Thỏa thuận rồi nhé!" Nikolai thốt lên và đưa tay ra, anh lắc cái bàn chân khổng lồ của con gấu.


*



Khi con sếu đầu tiên của mùa xuân đập cánh qua cửa sổ phòng Pyotr, đôi cánh trắng khổng lồ của nó trắng như tuyết tan, Nikolai biết rằng đã đến lúc phải rời đi.


Cảm ơn,” anh nói, lúng túng đứng ở ngưỡng cửa. "Tôi đã có một thời gian tốt đẹp."


Bạn không cần phải đi,” Pyotr và ho vừa đáp. "Tôi sẽ nhớ bạn."


"Tôi biết. Tôi cũng sẽ nhớ bạn. Nhưng tôi không phải gấu - tôi có gia đình và bạn bè trong làng. Tôi phải pha trà cho vợ, cho con đi ngủ và chơi kèn harmonica trong ban nhạc làng."


Pyotr cân nhắc những lời này. Nó ấy ước mình có một gia đình và bạn bè, mặc dù điều này không bình thường đối với một con gấu. Nó tự hỏi phải chăng nó không phải là một con gấu.



"Bạn có thể đến thăm tôi," Nikolai tiếp tục. "Điều đó chắc chắn sẽ khiến dân làng ngạc nhiên. Chúng ta có thể hái quả việt quất - có một khoảnh đất tuyệt vời ngay sau nhà tôi."


Pyotr mỉm cười khi nghĩ đến việc hái quả việt quất: đã lâu rồi nó không ngồi dưới nắng, dùng bàn chân to lớn của mình quẹt những quả việt quất nhỏ xíu.


"Tôi nghĩ là tôi có thể làm điều đó," nó nói.


*


Vì vậy, Gấu Pyotr và Thợ săn Nikolai đã trở thành bạn của nhau, không chỉ trong một mùa mà trong suốt phần đời còn lại của họ. Vào mùa hè, Pyotr đến thăm Nikolai, và họ cùng nhau hái đủ quả việt quất cho một chiếc bánh khổng lồ, đủ lớn để chia cho cả làng. Khi những người dân làng cùng nhau ăn miếng bánh ngọt mềm và dính tay dưới ánh sao mùa hè, họ sẽ ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào con gấu như một bức tượng khổng lồ đang ngồi cẩn thận liếm bàn chân của nó bên cạnh Nikolai.


Và vào mùa đông, ngay khi trận tuyết đầu tiên bắt đầu rơi, Nikolai sẽ đội chiếc mũ len màu xanh dương của mình và đi về phía những khu rừng Siberia hoang dã. Anh biết ở đâu đó giữa khu rừng, có một túp lều nhỏ ấm cúng, nơi người bạn thân nhất của anh đang chơi bài "O Susannah" trong khi một nồi đậu đang sôi trên bếp.


https://www.eastoftheweb.com/short-stories/UBooks/HuntBear971.shtml

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2023

BẠCH TUỘC CÓ BAO NHIÊU TRÁI TIM?

 



Hình từ: http://www.suprmchaos.com/


BẠCH TUỘC CÓ BAO NHIÊU TRÁI TIM?

 

Hầu hết sinh vật đều chỉ có một quả tim, riêng loài bạch tuộc có đến 3 quả tim. Bà con họ hàng của loài nhuyển thể này là mặc ống và mực nang cũng vậy.

 

Trái tim lớn nhất của bạch tuộc, trái tim hệ thống, nằm ở giữa cơ thể của động vật thân mềm này. Nó bơm máu chứa oxy đi khắp cơ thể, nhưng không đến mang.

 

Hai trái tim còn lại được gọi là trái tim phân nhánh, mỗi trái tim được gắn vào một trong hai mang của bạch tuộc, vì vậy chúng thường được gọi là 'trái tim mang. Nhiệm vụ của mỗi nhánh tim là bơm máu qua mang mà nó được gắn vào.

 

Những trái tim này tương đối nhỏ và không mạnh bằng trái tim hệ thống.

 

Kirt Onthank, nhà sinh vật học bạch tuộc tại Đại học Walla Walla ở Washington, cho biết như vậy.

 

Con người và các động vật có vú khác cần có 4 ngăn tim dể giải quyết vấn đề huyết áp thấp.

 

Động vật cần đủ huyết áp để đưa máu đi khắp cơ thể. Nếu một người bị huyết áp thấp, họ có thể bị choáng váng hoặc thậm chí bất tỉnh nếu đứng dậy quá nhanh hoặc gắng sức. Điều này là do áp suất thấp không đủ để đưa máu lên não. Kirt Onthank cho biết thêm.

 

Mang bạch tuộc hút oxy từ nước và tim nhánh bơm máu nghèo oxy qua mang. Máu giàu oxy thoát ra từ mang ở áp suất thấp, không đủ mạnh để đưa máu đến cơ thể. Vì vậy, bạch tuộc có một trái tim khác sau mang để tạo áp lực đưa máu đến cơ thể một cách hiệu quả.

 

Vì vậy con bạch tuộc cần có 3 trái tim, Onthank giải thích.

 

Tim và hệ thống lưi thông của máu của con người

Trái tim 4 khoang của con người cũng làm nhiệm vụ tương tự.. Hai ngăn bên phải của tim—tâm nhĩ phải và tâm thất phải (the right atrium and the right ventricle) bơm máu nghèo oxy từ các tĩnh mạch vào phổi. Khi máu giàu oxy rời khỏi phổi, nó sẽ thoát ra ở áp suất thấp.

 

Máu giàu oxy này được đưa trở lại tim — cụ thể là đến hai ngăn bên trái: tâm nhĩ trái và tâm thất trái (the left atrium and the left ventricle). Các khoang này điều hòa áp suất máu và đưa máu qua các động mạch đến phần còn lại của cơ thể.

 

Nói cách khác, bạch tuộc và con người giải quyết cùng một vấn đề theo hai cách rất khác nhau: bạch tuộc có nhiều trái tim và con người có trái tim nhiều ngăn. 

 

Một nghiên cứu năm 1962 cho biết rằng trái tim hệ thống (tim lớn) của bạch tuộc khổng lồ Thái Bình Dương (Enteroctopus dofleini) có thể hoàn toàn ngừng hoạt động trong thời gian dài khi chúng nghỉ ngơi, khi chúng không cần tăng huyết áp nhiều,. Thay vào đó, trái tim mang làm tất cả công việc, Onthank nói.

 

Ngoài ra, trái tim của bạch tuộc dừng lại một lúc khi chúng bơi và không ai biết tại sao, Onthank tiếp.

 

Bạch tuộc bơi bằng cách phun ra những tia nước từ cơ thể chúng. Tương tự như một quả bóng bay được bơm đầy và thả nó ra để nó bay vòng quanh. Điều này gây rất nhiều áp lực lên cơ thể của bạch tuộc, khiến tim chúng không thể bơm máu đúng cách. Vì vậy, thay vì chống lại áp lực đó, chúng có thể chỉ nhấn nút tạm dừng trên tim mình trong giây lát.

 

Có lẽ vì vậy nên bạch tuộc thường thích bò hơn bơi, Onthank nói thêm.

 

 

Tên bài: How many hearts does an octopus have? 

Nguồn: https://www.livescience.com/ 

Tác giả: Charles Q. Choi

 

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2022

NHƯ CHƯA HỀ ĐOÀN TỤ - Truyện ngắn

 

Truyện ngắn

NHƯ CHƯA HỀ ĐOÀN TỤ

Nguyễn Khắc Phước

 

Buổi trưa ở thị trấn Prao, huyện Đông Giang. Trời nắng như đổ lửa nhưng học sinh đa phần là con em đồng bào Cơ-tu đi học về chẳng có em nào đội nón. Chúng tôi chỉ mất chừng năm phút để đi xe máy giáp vòng thị trấn, cuối cùng cũng kiếm được quán cơm duy nhất đói diện với một cơ quan nhà nước. Mặc dù đã vào giờ ăn trưa nhưng quán vắng ngắt. Trước quán có có một xe máy mang biển số Đà Nẵng của một người khách duy nhất đang ngồi ăn trong quán.  Tôi đưa tay chào để làm quen:

-Chào anh bạn từ Đà Nẵng nhé. Chúng tôi cũng từ đó lên đây.

Vậy là chúng tôi bắt đầu chuyện trò vui vẻ.

Đức là một người thích du lịch bằng xe máy, ngày nay gọi là “đi phượt”. Một mỉnh một xe máy, anh đã đến rất nhiều nơi, từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Có lần anh sang Lào và vài nơi ớ Thái gần biên giới Lào.

Việc đi lại với anh có phần thuận lợi nhờ anh có bạn khắp nơi vi có một thời anh là tài xế xe tải, thưởng chở hàng hoá trong đó phần lớn là lốp xe của DRC - Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng đến các đại lý trong nước. Thế nhưng vì chuyện gia đình nên anh đã nghỉ việc gần mười năm nay.

Chuyện của Đức kể ở Prao chỉ đến đó khi chúng tôi rời quán ăn và Đức tiếp tục cuộc hành trình của anh.

Vài tháng sau, khi tôi được bạn mời vào họ nhà trai đến thị trấn Khâm Đức, huyện Phước Sơn để dự tiệc cưới và rước dâu về Đà Nẵng, tôi lại gặp Đức ở một quán cà phê. Tôi rủ Đức tối ở lại ngủ với tôi vì phòng còn dư một giường ở một khách sạn được trang bị khá cao cấp dành cho những tay buôn vàng và sâm Ngọc Linh.

Tối hôm đó, sau khi thử món thịt rừng với rượu ba kích, hai đặc sản của thị trấn miền núi này, chúng tôi về khách sạn và Đức kể tiếp câu chuyện của anh mà ở Prao chỉ mới khúc đầu.

Có một thời các thuỷ thủ ghé Nhật thường mua hàng nội địa cũ như máy giặt, máy điều hoà, máy cát-set mang về nước bán. Đức được thuê chở thứ hàng này nên anh ra vào cảng Đà Nẵng thường xuyên. Anh thường gặp Vĩnh là nhân viên thúế vụ ở đó. Hai người quen nhau rồi yêu nhau và tiến tới hôn nhân không mấy khó khăn vì cả hai đều có gia đình lâu đời ở trung tâm Đà Nẵng.

Cuộc sống tượng đối hạnh phúc, không thiếu thốn về vật chất cũng như tinh thần vi hai người chỉ có một cậụ con trai duy nhất.

Một ngày nọ, một bạn học cũ ở trường Phan Chu Trình mời Đức và hai bạn nữa vào TP HCM dự đám cưới của con trai anh ta. Một vài bạn cùng lớp khác cũng đến tham dự. Sau tiệc cưới, họ rủ nhau đến một quán nước để hàn huyên.

Đang ngồi cà phê, một bạn đứng dậy, bước nhanh ra đường và gọi một người phụ nữ đang đi ngang qua:

-Định, Định. Đức ở đây này.

Người phụ nữ kia quay lại và lớn tiếng mắng:

-Đừng có vớ vẩn nghe cha nội. Tui đâu phải Định mà kêu.

Đức bước ra xem chuyện gì và ngạc nhiên thấy chị kia giống vợ anh như đúc. Đức ôn tồn nói:

-Xin lỗi cô. Ông bạn của tôi nhầm cô với với vợ tôi vì hai người giống nhau như chị em sinh đôi vậy. Mong cô tha lỗi.

Người phụ nữ bớt giận và hỏi:

-Anh tử đâu đến?

-Từ Đà Nẵng.

-Tôi nghe mẹ nói tôi một người em sinh đôi ở Đà Nẵng đã mất liên lạc được từ 1972. Biết đâu vợ anh là em ruột của tôi.

Hai người nói chuyện một lúc và người phụ nữ kia mời anh đến nhà để mẹ chị gặp và trao đổi cho tường tận.

Đức xin địa chỉ và hứa ngày hôm sau sẽ đến vì hôm nay phải họp mặt với bạn bè mấy chục năm rồi mới gặp lại nhau.

Hôm sau, Đức tìm đến địa chỉ mà Vĩnh, người phụ nữ hôm qua gây lộn với bạn của anh, đã cho anh.

Tiếp anh là bà cụ đã trên 80 nhưng sức khoẻ còn khá tốt.

Mặc dù ở miền Nam mấy chục năm rồi, bà vẫn nói giọng Quảng Trị đặc sệt:

-Nghe con gái tui nói vợ chú ở Đà Nẵng giống hắn như tạc, mà hắn cũng có đứa chị sanh đôi mà năm 72 tui đã gởi người ta nuôi ngoài Đà Nẵng, từ đó đến chừ không liên lạc được vì mất tờ giấy ghi địa chỉ nhà cha mẹ nuôi.

Tay xách nách mang bốn đứa con chạy bộ từ Quảng Trị vào Huế. Bà và các con được một chiếc xe tải đưa từ Huế vào Đà Nẵng và cho bà và các con xuống tại trung tâm thành phố. Không nhớ chỗ đó là đâu. Đang lúc bơ vơ và đói lả, bà được một gia đình cho tá túc được vài ngày. Thời gian đó, có nhiều người cùng quê lang thang trên đường. Họ nói mấy trại tạm cư có phát gạo nên bà hỏi đường đến đó. Lúc rời nhà trọ, một trong hai bé sinh đôi, lúc đó mới hai tuổi, bị sốt nên ông bà chủ nhà trọ biểu để cháu ở lại để họ chăm sóc, ít bữa ổn định chỗ ở thì quay lại bồng cháu đi. Thế nhưng sau vài ngày ở trại tạm cư, có một chuyến xe duy nhất đến chở bà con đi kinh tế mới ở miền Nam, bà cùng ba con đành phải lên xe đi mà chưa kịp trở lại nhà trọ cũ để mang bé Định đi cùng.

Mọi chuyện đều như trên trời rớt xuống, Đức chẳng biết thực hư thế nào. Nếu thằng bạn của Đức không trông thấy Vĩnh thì không có chuyện rắc rối thế này.

Gia đình cha mẹ vợ của Đức là người gốc Đà Nẵng và gia đình anh cũng vậy. Vợ anh là người rất hiếu thảo, thường xuyên về nhà thăm cha mẹ ruột và bao giờ cũng mang theo quà biếu, không có dấu hiệu gì vợ anh là con nuôi.  Thế mà bây giờ lại xảy ra chuyện rắc rối, Đức không biết tính sao. Liệu anh có nên kể chuyện này với vợ và cha mẹ vợ?

Anh cảm thấy mình giống một nhân vật trong một truyện tương tự trong tập phim truyền hình Như Chưa Hề Có Cuộc Chia Ly của nhà báo Thu Uyên. Anh vốn là một tài xế, thường có phản ứng nhanh để giải quyết sự việc, vậy nên anh hứa với bà mẹ của Vĩnh sẽ mang chuyện bà kể vể thưa lại với cha mẹ vợ, thử xem sự thật thế nào, vợ anh là con ruột hay con nuôi của cha mẹ vợ.

Như Chưa Hề Có Cuộc Chia Ly kể về những cuộc sum họp gia đình rất cảm động, tưởng như chỉ có trong mơ, thế nhưng những gì xảy ra sau khi đoàn tụ thì mỗi gia đình mỗi cảnh, phim không bao giờ nói hết.

Về nhà, Đức vô tư kể lại chuyện trên cho vợ nghe. Sau đó, anh đến nhà cha mẹ vợ để hỏi chuyện ấy hư thực thế nào.

Đức được cha vợ dạy một bài học:

-Mầy là thằng ngu. Đang ăn yên ở yên, khi không mầy nghe chuyện tào lao ngoài đường lại cho là thực và đem về nhà thêm sinh chuyện. Giá như mầy im đi, chuyện đâu để đó, thì chẳng có chuyện gì rắc rối xảy ra. Ví dụ như mầy ra đường nghe ai đó nói thằng Tuấn không phải là con ruột của mầy, mầy có tin không? Rồi mầy nghe lời người ta tức tốc đi làm xét nghiệm ADN. Biết bao thằng làm như vậy nhưng chúng là những thằng ngu. Thằng khôn biết suy nghĩ thì không bao giờ làm vậy. Chăm sóc một đứa trẻ từ lọt lòng đến khi trưởng thành, biết bao nhiêu là công sức, của cải và tình yêu thương dành cho nó. Gia đình hạnh phúc, trên dưới thuận hoà.  Đùng một cái phát sinh chuyện xét nghiệm ADN, khiến gia đình tan nát. Kết quả nó là con ruột của mầy thì mầy cũng mất thằng con vì nó chẳng còn kính trọng mầy. Tình cảm vợ chồng mầy cũng sụp đổ vì mầy là kẻ tâm thần, đồng bóng, hoặc đang thực hiện âm mưu thâm độc bằng cách dựng chuyện để bôi nhọ danh dự gia đình. Nếu kết quả nó không phải là con ruột của mầy, vậy là công nuôi dưỡng của mầy bấy lâu thành công cốc. Công sinh sao bằng công dưỡng. Mầy mất một thằng con. Mầy biến một đứa trẻ có cha mẹ đàng hoàng thành đứa mồ côi. Có ác độc không? Có vô nhân đạo không? Mày chưa đến tuổi để ngộ ra rằng sinh ra một đứa trẻ là đưa một sinh linh vào vòng sinh lão bệnh tử. Nó phải tiêm đến 10 thứ  vắc-xin mới có thể sống sót. Rồi học hành, thi cử, kiếm công việc làm, thực ra là đi làm đầy tớ cho người ta chỉ để kiếm cái ăn, cái mặc, cái nhà … cũng giống như những sinh vật khác, thậm chí còn khổ hơn bởi những loài khác không có chiến tranh. Con ruột và con nuôi, chưa biết đứa nào có hiếu hơn đứa nào. Mầy không thấy hai đứa con ông Năm Giỏi nghe tin cha ốm tìm về, nhưng khi nghe nhà đã cầm cố để lấy tiền chửa bệnh cho cha thì hai đứa lặng lẽ bỏ đi.  Hoá ra chúng về chỉ  để chia gia tài. Ông Tám Khéo có một đứa con gái duy nhất lấy chồng ở nước ngoài, nay trên 80 rồi, mặc dù không thiếu thốn vật chất nhưng thiếu thốn tình cảm, thấy hai ông bà thui thủi, rất buồn. Nếu hồi trẻ ông bà xin một đứa con nuôi thì nay đã có người lui tới chăm sóc. Thế nên tao định khuyên vợ chồng bây nên xin một đứa con nuôi, gọi là làm phúc, làm phước để tạo nghiệp lành. Nuôi con gái càng tốt vì lớn lên mình gả chồng cho nó là hoàn thành nhiệm vụ.

 

Chuyện về vợ Đức có cô chị sinh đôi lắng xuống một thời gian  đến khi Tuấn, con trai của họ vào TP HCM dự thi vào đại học và vợ anh dẫn Tuấn đi, nhân tiện vào thăm bà mẹ và chị gái mà Đức đã đến thăm mấy năm trước.

Hai mẹ con trở về khi Tuấn thi xong. Vĩnh vui vẻ cho Đức biết là hai chị em đã đi xét nghiệm ADN và kết quả họ là chị em ruột. Đức dặn vợ phải giữ bí mật, không những không cho ông bà ngoại của Tuấn biết mà còn thường xuyên đến chăm sóc và tặng quà.

 

Tuấn đươc trúng tuyển vào Đại học Kiến trúc TP HCM và lên đường nhập học. Không lâu sau đó, Vĩnh nhắn tin Định vào gấp vì mẹ đau nặng, hai anh đã ở nhà riêng nên cần Vĩnh vào chăm sóc. Ngoài ra hai anh còn đồng ý để mẹ chuyển quyền thừa kế ngôi nhà cho Vĩnh để bù lại thời gian phải làm con nuôi.

 

Vĩnh lặng lẽ đi Sài Gòn, không báo cho cha mẹ, bây giờ là cha mẹ nuôi, biết vì sợ họ buồn. Thực ra, ông bà không buồn lắm, cho rằng mình đã làm tròn nhiệm vụ.

 

Vì mẹ bị tai biến và nằm liệt giường nên Định phải túc trực ngày đêm. Đức không đi Sài Gòn được vì một mình quản lý cửa hàng xe đạp và phải thường xuyên đến thăm và tặng quà cha mẹ nuôi của vợ, nói dối là quà của vợ gởi biếu ông bà ngoại.

Đức và Định dần dần thưa điện thoại hoặc nhắn tin cho nhau vì Định không cầm máy. Tuấn ra trường và kiếm việc ở Sài Gòn nên không về nhà. Trong thời kỳ dịch Covid 19, Tuấn nhắn tin bà ngoại đã mất ở bệnh viện, mẹ nó nhận được hủ tro cốt mà người ta nói là của bà ngoại.

  

Đức một mình ở nhà. Thỉnh thoảng đóng cửa hàng để đi phượt bằng xe máy. Thời gian thấm thoát đã gần mười năm vợ chồng anh không gặp nhau.

 

Được hỏi tại sao Định có thể quên gia đình cha mẹ nuôi và chồng dễ dàng như vậy, Đức nói có lẽ ở nhà cha mẹ nuôi, vợ anh cảm nhận được mình là con nuôi và quen với lối sống tử tế ngoài mặt mà xa cách trong lòng. Đến bây giờ, anh mới nhận ra vợ anh chỉ làm cho xong phận sự của một người vợ, người mẹ chứ không tích cực hay sốt sắng vào bất cứ việc gì. Trong lòng Vĩnh có lẽ chỉ ấp ủ một thứ mà thôi, đó là ước mơ có ngày được đoàn tụ với gia đình ruột thịt.

 

Được hỏi Đức có định tái giá hay quan hệ tình cảm với ai nữa không, anh dứt khoát nói không. Anh hài hước thêm:

-Mình đã yêu và cưới một phụ nữ yêu mình, có lý lịch và nguồn gốc rõ ràng, hoá ra họ chẳng yêu mình và lý lịch chắp vá. Mình chỉ cưới được cái xác chứ không cưới được cái hồn, ôm đươc cái thân chứ không ôm được cái tâm. Nếu không có Eva và con rắn thì Adam vẫn thong dong vui chơi trong vườn địa đàng chứ đâu phải xuống trái đất để lao động khổ cực và chưa ai nói hai người đó được ly thân. Còn mình được Thượng đế cho ly thân với Eva và đưa mình trở lại thiên đường rồi, không dại gì mà quay trở lại bể khổ trần gian ấy nữa. Chuyện của mình chưa có hồi kết nên nếu Thu Uyên đưa lên phim thì phải đặt tên là: Như Chưa Hề Có Cuộc Đoàn Tụ.

 

 

 

 

 

 

 


Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

NGƯỜI BẠN CŨ - Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước



NGƯỜI BẠN CŨ 

Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước 

 

Nếu không có buổi họp chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường thì tôi đã không có dịp gặp lại Khoa, người bạn cùng lớp, sau 40 năm cách mặt. 

Khoa ngồi cùng bàn với tôi từ những năm đệ nhất cấp sang đệ nhị cấp, sau đó, khi rời Quảng Trị vào Huế, mỗi thằng học mỗi trường, nó học luật, tôi học sư phạm, ở cư xá khác nhau. Phần tôi vì sợ quân dịch nên túi bụi lo chuyện học hành, thỉnh thoảng mới gặp nhau ở quán cà phê đường Trương Định, chỗ sinh viên thường hay lui tới. 

Khi tôi đến dự buổi hội trường thì không biết Khoa đang có mặt ở đó. Nó ngồi đối diện với tôi nhưng tôi không nhận ra. Chỉ khi anh đại diện ban liên lạc giới thiệu, chúng tôi mới ồ lên ngạc nhiên rồi tay bắt, mặt mừng. Sau buổi họp, tôi mời Khoa ra quán nước để tâm sự cho thỏa. 

Hồi trung học, nó không những là bạn thân của tôi mà còn định làm em rể của tôi bởi nó léng phéng tán tỉnh Thúy - cô em gái của tôi. Nó thường la cà đến nhà tôi, giả bộ trao đổi chuyện học hành với tôi, nhưng thực ra chỉ để gặp Thúy và tặng thơ tình mà nó hầu như luôn để sẵn trong túi. Thúy thường cho tôi đọc thơ của nó, nhưng vì tế nhị, tôi không bao giờ kể gì với Khoa, với lại, tôi cho đó là việc của trẻ con, không cần quan tâm. Tuy nhiên, tôi không phải là thằng tốt đẹp gì nên thường tỏ ra có quyền hành với nó, thế nhưng nó luôn tử tế với tôi. 

Mấy năm ở đại học, vì quá bận học hành nên tôi không biết hai đứa nó có còn liên lạc với nhau không. Nếu hai đứa nó đến được với nhau thì tôi cũng mừng vì Khoa có đến hai giấy hoãn dịch, một vì lý do gia cảnh vì nó là con trai độc nhất, một vì lý do học tập. Tôi mà rớt thì phải ra chiến trường, còn nó rớt thì chẳng hề hấn gì, vẫn tiếp tục học thoải mái. Thế nhưng khi tôi sắp hết năm thứ hai thì Thúy buồn bã bỏ ăn mấy ngày, hỏi ra thì Khoa đã bỏ lên rừng theo Mặt trận, chỉ để lại cho Thúy ít dòng. Hồi đó, chuyện sinh viên bỏ lên rừng theo cách mạng là chuyện thường, không ai ngạc nhiên. Riêng Khoa thì hơi ngạc nhiên vì chưa bao giờ nghe nó nói chuyện chính trị, chỉ biết làm thơ tình. Với lại, nó chẳng tham gia hoạt đông tranh đấu của sinh viên như viết báo hay ứng cử vào ban đại diện sinh viên. Và ba nó, vì một chân có tật, phải đi khập khiễng, nên bên nào cũng chê. Nếu tôi phải đi lính,  e rằng có lúc hai thằng chúng tôi đã bắn vào nhau trên chiến trường. 

Mọi chuyện đều đi vào quên lãng trong cái vòng xoáy của thời cuộc. Thời buổi chiến tranh, chỉ lo cái thân nay còn mai mất, hòa bình thì lo miếng cơm manh áo, nên trong suốt mấy chục năm, thú thật, tôi quên phéng nó. Quên cũng là may cho nó bởi nó đã khiến em gái tôi phải ốm tương tư một thời gian dài. Chỉ một hai năm gần đây, nhờ công nghệ thông tin nên các bạn cùng lớp lập một danh sách gởi về cho tôi, trong đó có tên Lê Chí Khoa kèm ghi chú: "Nghe nói ở miền Nam, không rõ địa chỉ." 

Bây giờ, thằng Khoa bằng xương bằng thịt với mái tóc muối tiêu dài kiểu nghệ sĩ đang ngồi trước mặt tôi bên bờ sông Thạch Hãn và kể về phần đời của nó mà tôi không hề biết tới. 

Khoa kể khi tổ chức đưa nó lên chiến khu (à, thì ra nó thuộc một tổ chức cơ sở hoạt động bí mật ở nội thành mà tôi không hay), sau một trận đánh, nó bị thương nhẹ, được đưa ra Hà Nội chữa bệnh và học tiếp, không phải luật mà là văn. Sau ngày giải phóng, tổ chức phân công Khoa về miền Tây, phụ trách báo chí. Trước khi đi, Khoa có về thăm nhà và thấy cha mẹ nó đang nuôi một bé trai lai, môi dày, da ngăm, nên nó khá bực tức. Bao năm đi đánh Mỹ bây giờ về nhà lại thấy trong nhà mình có thằng con của Mỹ, thật là trớ trêu. Nó thấy thằng bé cũng dễ thương nhưng lại sợ ảnh hưởng đến lý lịch trơn tru không dính dáng một chút gì đến chế độ cũ của mình, lại thuộc vào thành phần cơ bản, được chiếu cố. Khoa khuyên cha mẹ nên gởi thằng bé lại cho cô nhi viện, nơi cha mẹ nó tản cư đến tạm trú một thời gian, nhưng lúc đó, một vì phần cô nhi viện nơi nuôi thằng bé đã giải tán, một phần vì cha mẹ nó nhất quyết không chịu, nói: Bao năm ba mẹ không biết con sống chết thế nào, nên cố xin thằng bé về nuôi để sau này nhờ cậy nó, bây giờ để người khác nuôi, sao đành. Với lại, những người phụ trách cô nhi viện đã tin tưởng gởi gắm và mình lại chịu ơn họ nên không thể thất hứa. Mình đưa nó về nhà mình chớ nó đâu có tự đến. Mình không nuôi nó thì có người khác xin ngay. Hơn nữa, nó khỏe mạnh cùi cụi, dễ bảo, sai đâu chạy đó. học hành thông minh. 

Khoa đành khăn gói lên đường làm nhiệm vụ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho mình nếu chuyện này lộ ra. 

Chừng hơn mười năm sau, Khoa được tin Minh - thằng em nuôi của Khoa - được xuất cảnh theo diện con lai, và vài năm sau thì cha mẹ Khoa được xuất cảnh theo diện gia đình có con lai, sang sinh sống với Minh ở nước ngoài. 

Hôm cha mẹ Khoa vào Sài Gòn ở nhà người bà con để chuẩn bị lên máy bay, vợ chồng Khoa và hai con có đến thăm để tiễn đưa. Đó là lần Khoa gặp cha mẹ gần nhất và cũng là lần cuối. Chừng sáu năm sau khi cha mẹ Khoa ổn định chỗ ở và có thẻ xanh, vợ chồng Khoa và hai con được bảo lãnh xuất ngoại. Mặc dù đã làm thủ tục gấy tờ đầy đủ, nhưng đến phút chót, Khoa quyết đinh để vợ và hai con lên máy bay, còn Khoa ở lại một mình, nói lúc nào có điều kiện sẽ sang. Lý do mà Khoa không muốn đi là do trước đây Khoa đã lỡ khuyên cha mẹ đuổi Minh, mặc dù Minh không hề biết. Điều cha mẹ Khoa mong mỏi trước đây bây giờ trở thành hiện thực và Minh đúng là một người con có hiếu. "Nó là một thằng con nuôi lai nhưng tốt hơn nhiều thằng con ruột, trong đó có tao," Khoa nói. 

Hai lần Khoa cần sang Mỹ nhưng đi không được vì đều bận công tác, đó là lúc cha nó mất vì tuổi già, rồi không lâu sau, mẹ nó cũng theo ông. Rồi vì chờ quá lâu,vợ Khoa làm đơn ly dị và lấy chồng khác. Khoa không nói nhiều về chuyện vợ nó ly dị, có lẽ bởi đó là chuyện khó tránh của nhiều gia đình có hoàn cảnh tương tự và tôi cũng tế nhị không hỏi gì thêm. 

"Mấy năm làm việc bân rộn nên không biết buồn, nay về hưu, cảm thấy trống trải quá. Chợt nhớ quê hương, bà con, bạn bè nên bò về thăm," Khoa nói. 

"Tại sao mầy không sang sống với hai con cho sướng?" tôi hỏi. 

"Sướng cái con khỉ chùa cầu thì có! Mình không thạo tiếng người ta thì chỉ có ngồi nhà xem ti vi suốt ngày. Thì cũng được đi, nhưng oái oăm là thằng rể và con dâu tao đều là người bản xứ, cha chúng nó đều đã tham chiến tại Việt Nam và đều đã chết trận, ai cấm chúng nó nghĩ có thể bố vợ và bố chồng chúng nó đã từng bắn nhau với cha chúng?" Khoa nói. 

"Người ta đang kêu gọi bỏ qua quá khứ, cùng nhau hợp tác, hướng đến tương lai, còn mầy cứ khư khư ôm dĩ vãng nặng nề đó làm gì. Giả dụ như mày có đánh nhau với cha chúng nó cũng là chuyện thường tình của chiến tranh. Hơn nữa, thời gian mầy trực tiếp chiến đấu không lâu," tôi nói. 

"Biết vậy nhưng đó là chuyện quốc gia, còn riêng mình vẫn cảm thấy khó ở. Trong trường hợp của tao, vì cùng là thành viên của một gia đình cùng chung sống dưới một mái nhà nên cái tâm của mình không thể thoải mái được," Khoa nói. 

"Nghĩa là bây giờ mày sống tự do một mình bằng lương hưu, lâu lâu có các con tài trợ, phải không? Thỉnh thoảng giao du với em út? Vậy thì có tiên mới sướng hơn mầy, còn đòi gì nữa?" 

"Nhưng vẫn thường trực cô đơn và không biết làm gì cho hết thì giờ," Khoa nói, 

Khoa chuyển đề tài: "Cho tao gởi lời xin lỗi Thúy và cả mầy nữa, dù muộn." 

"Mầy có lỗi gì đâu. Bỏ một người để lo cho triệu người là chuyện chính đáng," tôi nịnh nó. 

"Mầy lên lớp chính trị thì thua tao dù mầy là giáo viên dạy văn. Bây giờ Thúy ra sao, đang ở đâu, gia đình thế nào?" Khoa hỏi. 

"Nó đang ở với con gái trên Đà Lạt. Chồng nó mất lâu rồi." 

"Tôi nghiệp Thúy! Thôi được, mầy cho tao địa chỉ của Thúy. Sau ngày hội trường, tao sẽ đi Đà Lạt."

 

18/4/2012

Nguyễn Khắc Phước

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2022

THƯ HỒI ÂM

 

Thư hồi âm

(30 năm trước)

 

Thế nào sang năm anh cũng về thăm

Để mừng sinh nhật em bốn sáu

Để mừng em đủ chồng con cháu

Để nghe lại giọng cười thuở mười sáu vẫn còn tươi


Còn nhớ không, sáng mùa xuân mình đi rong chơi

Con đường ven sông dịu dàng nắng gió

Em nhí nhảnh cười đùa nghiêng ngó

Như chim sâu trong vườn ổi ven đường


Và đẹp làm sao tuổi thiên đường

Khi lang thang qua đồi sim chiều nhạt nắng

Ngồi bên nhau sân giáo đường yên vắng

Em trong trắng thiên thần anh khờ khạo con chiên


Lại hẹn nhau trên cầu Trường Tiền

Dịu dàng bay tà áo trắng hồn nhiên

Anh trao em chùm phượng hống hái từ vườn cư xá

Em cài lên tóc một đóa làm duyên


Cánh phượng ép thuở nào hẳn không còn nguyên

Nhưng ký ức thuở hoa niên vẫn còn tươi rói 

Hai mươi năm biết bao điều chưa nói

Gặp nhau lần này tâm sự sẽ triền miên

1992

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2022

Truyện cổ Ukraina: CÔ GÁI VÀ NGƯỜI MẸ ĐỘC ÁC - Tác giả: A. H. Wratislaw

 


Truyện cổ Ukraina 

CÔ GÁI VÀ NGƯỜI MẸ ĐỘC ÁC 

Tác giả: A. H. Wratislaw

 

     Trong rừng nọ có một túp lều tranh. Trong đó có một cặp vợ chồng già rồi nhưng họ không có con. Họ đi hành hương để cầu xin Chúa ban cho họ một đứa con. Chúa cho họ sinh một cô con gái. Cô ấy càng lớn lên càng xinh đẹp. 

     Một hôm, hoàng tử cưỡi ngựa đi săn, khi thấy một túp lều trong rừng, anh sai thị vệ tới đó xin nước. Thị vệ tới khi đứa trẻ đang khóc, và thấy những viên ngọc trai đang lăn từ mắt nó xuống. Được mẹ dỗ dành, nó bắt mỉm cười. Ngay khi nó mở miệng cười, nhiều loài hoa nở quanh nó. Người hầu đi ra và nói: ‘Thưa hoàng tử, hạ quan đã thấy một bé gái; khi nó khóc, ngọc trai lăn xuống; và khi nó cười, muôn hoa đều nở rộ.” Hoàng tử đi vào túp lều và bắt đầu trêu chọc đứa trẻ khiến nó khóc. Khi bé gái khóc, những viên ngọc trai lăn xuống. Sau đó, hoàng tử biểu mẹ nó dỗ dành nó. Khi nó mỉm cười, hoàng tử thấy muôn loài hoa nở rộ. 

     Cô gái tiếp tục lớn lên, và hoàng tử luôn đi đường đó khi đi săn. Khi cô ấy đã lớn, hoàng tử nói với bà mẹ cô gái: “Bà hãy gả con gái cho ta làm vợ.” Lúc đó, nàng đang thêu khăn tay có hình đại bàng. 

     Nhưng hoàng đế nói: “Hỡi con trai của ta, trí khôn của ngươi đã đi đâu rồi, mà con lại muốn lấy một cô gái nông dân làm vợ? Khi hoàng tử trình nhà vua cái khăn tay mà cô ấy đã thêu, hoàng đế vỗ tay: “Cưới đi,” ông nói, “Con ơi, cưới đi!” 

     Sau đó anh ta đưa cô về triều, mang theo cả mẹ cô ấy nữa. Khi họ đang trên đường đi, hoàng tử dừng lại để săn bắn. Nhân cơ hội ấy, bà lão lấy tất cả mọi thứ trên mình con gái, lấy cả cặp mắt cô rồi đẩy cô vào một cái hang sau khi mặc quần áo khác cho cô để hoàng tử không nhận ra cô nữa. 

     Quanh hang có vô số bụi rậm. Một ông già đến lấy củi phát hiện một cô gái đang ngồi trong hang, và trước mặt cô là một đống ngọc, cô đã khóc khi ngồi đó, nhưng cô ấy không có mắt. Cô gái nói: “Hỡi ông già tốt bụng, hãy nhặt đồ trang sức ở đây và đưa tôi đi.” Ông già nhặt hết đồ trang sức và dẫn cô ấy về nhà ông. Nhà ông già không có trẻ con, nhưng có một bà già. 

     Cô ấy nói với ông già: “Hãy bỏ đồ trang sức trong một chiếc túi, và mang chúng đến thị trấn để bán; và nếu gặp một bà già nào đó hỏi mua thì đừng lấy tiền bà mà hãy nói: "Bà có cái gì thì đưa cho tôi." 

     Ông già mang ngọc trai ra thị trấn và gặp một bà già. Bà lão nói: “Bán cho tôi đồ trang sức!” “Bà cứ mua.” “Bao nhiêu tiền?” “Bà có vật gì thì đưa vật đó.” Bà đưa cho ông một con mắt. Ông mang mắt về cho cô gái. Sau đó cô bắt đầu thêu một chiếc khăn tay bằng một con mắt. Một lần nữa, ông già mang đồ trang sức đến thị trấn. Bà lão lại nói: “Bán cho ta đồ trang sức!” “Mua đi.” “Bao nhiêu tiền?” “Bà có cái gì thì đưa đây.” 

     Bà đưa cho ông con mắt còn lại và ông mang mắt về cho cô gái. Sau đó, bằng hai mắt, người thợ thêu bắt đầu thêu những chiếc khăn đẹp hơn. 

     Ông già nói: “Có một dạ tiệc ở cung đình.” Cô gái nói: “Ông già tốt bụng, hãy đến bữa tối ấy, mang theo một cái bình, để ông có thể xin một ít súp cho tôi.” 

     Cô buộc một chiếc khăn tay do chính cô thêu trên cổ của ông già. Khi hoàng tử thấy chiếc khăn tay trên cổ ông già, anh ta kêu lên: “Ông già, ông từ đâu đến?” “Từ trang trại gần rừng kia, thưa hoàng tử; và có một cô gái sống ở nhà tôi, vậy làm ơn cho cô ta thứ gì đó vào cái bình này. ''Nhưng, ông già, ông lấy chiếc khăn tay đó ở đâu vậy?''  “Cô ấy đã thêu nó.” Hoàng tử ngay lập tức nhận ra cô gái nhờ tấm khăn thêu: “Đúng là cô ấy!” 

     Sau đó Hoàng tử cho người mang cô gái ấy về để chăn lợn. 

     Câu chuyện chỉ có thế.

 

&&&

 

Sơ lược về tác giả 

Albert Henry Wratislaw (5 tháng 11 năm 1822 - 3 tháng 11 năm 1892) là một giáo sĩ người Anh và học giả Slavonic người gốc Séc. 

 Ông chuyên nghiên cứu văn học Xla-vơ (Slavic literature)(1), là tác giả cuốn sách truyện dân gian Slav “Sáu mươi câu chuyện dân gian từ các nguồn Slavonic độc quyền” vào năm 1889. Cuốn sách bằng tiếng Anh là một tập hợp các câu chuyện cổ tích và truyện dân gian từ nhiều vùng khác nhau. Bản thân Wratislaw cho biết: Những câu chuyện này được dịch từ ngôn ngữ của cư dân Slavonic của gần 3/4 người Bohemia (2), người Séc. 

Vào kỳ nghỉ dài năm 1849, ông đến thăm Bohemia và học tiếng Séc ở Praha. 

Sixty Folk-Tales được dịch từ các ngôn ngữ Slavonic là bộ sưu tập đầu tiên và duy nhất của ông về văn học dân gian Slav, và được xuất bản chỉ hai năm trước khi ông qua đời. 

&&& 

(1) Ngữ tộc Slav là một nhóm ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn-Âu, xuất phát từ Đông Âu. Nhóm này bao gồm vào khoảng 20 ngôn ngữ và tập trung tại Đông Âu và Nga. (Theo: vi.wikipedia.org.) 

(2) Bohemia hay Čechy (tiếng Séc: Čechy; tiếng Đức: Böhmen, tiếng Ba Lan: Czechy) là một khu vực lịch sử nằm tại Trung Âu, chiếm hai phần ba diện tích của nước Cộng hòa Séc ngày nay.  (Theo: vi.wikipedia.org.)