Thứ Ba, 27 tháng 7, 2021

75 VẪN CÒN XUÂN

 (Thuật lại 1 bài báo trên The Guardian)

 

Joan Macdonald là một phụ nữ cao tuổi nhưng trông giống như một vận động viên thể hình. Nhưng trước đây, bà không được như vậy.

 

Ở tuổi 71, bà nặng 90kg, bị tăng huyết áp và các vấn đề về thận.  Bà thường dùng thuốc điều trị chứng trào ngược axit và cholesterol, và bác sĩ của bà muốn tăng gấp đôi liều lượng.

 

Con gái bà, Michelle, đã thẳng thắn nói "Mẹ rồi sẽ kết thúc như bà ngoại trong viện dưỡng lão! Và mọi người sẽ phải chăm sóc mẹ. Mẹ có muốn điều đó không?"

 

Nghe lời con gái, bà rời nhà ở Ontario, Canada để đến với Michelle và chồng, cả hai đều là huấn luyện viên thể dục, ở Tulum, Mexico.

 

Bà đến thăm phòng tập thể dục. Bà theo dõi chương trình tập luyện của Michelle, sử dụng máy móc, sau đó tập tạ nhẹ - 2,5lb (1kg) - tập đến tạ nặng hơn. Bà bắt chước nâng một thanh tạ và hạ nó xuống sau đầu. Dần dần, bà có thể nâng đến 25lb (11kg).

 

Mark Peterson, phó giáo sư về y học vật lý và phục hồi chức năng tại Đại học Michigan cho biết: “Có một quan niệm sai lầm rằng những người trên 65 tuổi không thể tạo ra sự phát triển của cơ. "Cơ là một mô có thể thích ứng với kích thích." Điều quan trọng là phải kiểm tra với bác sĩ trước và bắt đầu từ từ.

 

Sau 9 tháng thì bà không còn dùng thuốc thang gì nữa.

 


Trên Instagram, Macdonald đăng ảnh bà mặc áo thể thao hoặc trang phục đi biển. Trang của bà có 1,4 triệu người theo dõi. Nếu bạn có tài khoản Instagram, hãy tìm trainwithjoan và theo dõi cho vui.

 

Năm nay, Macdonald đã tổ chức sinh nhật lần thứ 75 của bà. Bà hết sức lạc quan và có nhiều dự định muốn xây dựng cái gì đó, nhưng ưu tiên vẫn là xây dựng chính mình.

 

Macdonald đã sống phàn lớn cuộc đời trưởng thành của mình trong một cơ thể được tẩm thuốc.  Vậy tại sao bà có thể thực hiện thay đổi ở tuổi 71?  Bà nói, “Tôi biết là mình đã chạm đáy và không để xuống sâu hơn nữa.”

 


“Tôi bận rộn với gia đình và quên mất chính mình. Ước gì tôi đã biết chuyện này sớm, tôi đã là người khỏe mạnh hơn từ lâu rồi,” bà nói.

 

Là một phụ nữ cao tuổi, bà đang tìm cách làm cho mình trẻ ra. “Mọi người cần biết, đặc biệt là phụ nữ, ở tuổi 40 chưa phải là hết thời rồi, chắc chắn cũng chưa hết thời ở tuổi 50 hoặc 60 hoặc 70. Bạn có thể tiếp tục và tiếp tục cho đến ngày không còn nữa,” bà nói.

.

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2021

Sưu tầm: Đọc lại bài thơ ngày xưa đã học trong sách Englsh for Today: STOPPING BY WOODS ON A SNOWY EVENING của Robert Frost



Bài sau đây chép từ trang web của báo Nghiên Cứu Quốc Tế

http://nghiencuuquocte.org/2021/03/07/


&

07/03/1923: “Stopping by Woods on a Snowy Evening” được xuất bản

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Nguồn: “Stopping by Woods on a Snowy Evening” is published, History.com 


Vào ngày này năm 1923, New Republic đã cho xuất bản bài thơ Stopping by Woods on a Snowy Evening (Dừng Chân ven Rừng một Chiều Tuyết Xuống) của Robert Frost. Bắt đầu bằng dòng thơ nổi tiếng “Whose woods these are, I think I know. His house is in the village though” (Rừng trước mặt thuộc về ai ta biết. Nhà chủ nhân ở mãi tận trong làng), bài thơ này đã giúp hàng triệu học sinh Mỹ làm quen với thơ ca. 


Giống như hầu hết các bài thơ của Frost, Stopping by Woods sử dụng giọng điệu của một nông dân New England giản dị – người đang chiêm ngưỡng một cảnh quan hàng ngày. Nhưng bản thân Robert Frost lại rất khác với những người kể chuyện mà ông đã tạo ra. Dù gắn bó lâu dài với New England và nông nghiệp, Frost thực ra đã chào đời ở California vào năm 1874 và tiếp tục sống ở đây cho đến khi cha ông, một nhà báo, qua đời khi ông lên 11 tuổi. 


Mẹ đã đưa Frost đến sống tại Massachusetts, nơi ông tốt nghiệp với tư cách là đồng thủ khoa của trường trung học. Tiếp đến, ông theo học tại Đại học Dartmouth và Harvard nhưng đã không hoàn thành chương trình ở cả hai trường. Ba năm sau khi tốt nghiệp trung học, Frost kết hôn với người bạn gái cũng là đồng thủ khoa với mình, Elinor White.


Frost đã cố gắng gầy dựng một trang trại ở New England nhưng không thành công, và gia đình ông, chẳng mấy chốc đã có tận 4 người con, đã phải vật lộn với đói nghèo trong hai thập niên. Frost ngày càng chìm trong trầm cảm, thậm chí ông có lẽ đã có ý định tự tử. Năm 1912, ông đưa gia đình sang Anh để bắt đầu lại cuộc sống mới. Ở đó, ông tập trung sáng tác thơ và cho xuất bản tập thơ mang tên A Boy’s Will vào năm 1913 – tác phẩm nhanh chóng giành được nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình Anh và giúp ông giành được hợp đồng xuất bản tại Mỹ cho cuốn sách thứ hai của mình, North of Boston (1914). 


Công chúng Mỹ rất yêu thích Frost, khi ấy đã 40 tuổi, người quay trở về Mỹ khi Thế chiến I nổ ra và mua một trang trại khác ở New Hampshire. Ông tiếp tục xuất bản sách, giảng dạy và thuyết trình tại các trường Amherst, Michigan, Harvard, và Dartmouth, ngoài ra còn đọc thơ của mình tại lễ nhậm chức của Tổng thống Kennedy. Bi kịch vẫn đeo bám cuộc đời ông khi cậu con trai tự tử và cô con gái mắc chứng tâm thần. 


Dù Frost chưa từng tốt nghiệp đại học nhưng ông đã có đến 44 tấm bằng danh dự trước khi qua đời vào năm 1963.


&&& 


*Bản dịch thơ của Đông Yên 

(Nguồn: dinhsong.net) 


STOPPING BY WOODS ON A SNOWY EVENING


(Dừng Chân Ven Rừng Một Chiều Tuyết Xuống)


Robert Frost 


(Phần lớn nội dung bên dưới dựa vào một bài nghị luận văn chương bằng tiến Anh mà tôi đệ nạp khi theo học chương trình cử nhân tại Đại Học Cal State University of Long Beach.  Bài luận văn nầy nhận điểm “A!”, trong khi hệ thống điểm Hoa Kỳ chĩ có "A",  "A+" hoặc "A-" mà thôi.) 


Bối cảnh bài thơ vẫn là New England, nhưng những chi tiết đưa ra không chĩ nhằm mục đích minh họa.  Bối cảnh, nhân vật, và phối trí dàn dựng bài thơ chủ yếu là phương tiện truyền tải những tri giác của Robert Frost về cuộc đời.  Trong “Stopping by Woods on a Snowy Evening”, nhà thơ hóa dạng các chi tiết vật lý thành một dạng trầm tư về sự căng thẳng nào đó mà con người thường cảm nhận giửa trách nhiệm cuộc sống và quyến rủ sâu thẳm của cái chết, giữa con vật và kẻ siêu nhân, giửa thiên nhiên hữu hình và nhản giới xa xăm trừu tượng siêu hình.  Khi con ngựa giật nhẹ chuông cương, chúng ta được nhắc nhở rằng con người đang đối diện với một chủ đề phổ quát và mặt khác với một khoảnh khắc lặng yên của thiên nhiên hữu hình hữu hạn.  Trong số những ưu tư hàng đầu trong thi ca của Frost phải kể đến sự mong manh của cuộc đời, những hậu quả trong việc chối bỏ hay chấp nhận những điều kiện của đời mình, những dục vọng khôn nguôi, những vấn nạn trong duy trì tình nghĩa vợ chồng, nỗi lo sợ cô đơn và hiu quạnh, những thay đổi tất yếu, những dằn vặt giửa xã hội và cá nhân, giửa truyền thống và thực tại. Đoạn kết của bài thơ cơ hồ như gợi lên hình ảnh của một lử hành bị định mệnh bắt mãi mãi đi về phía trước, một dạng “Homo Viator” của Gabriel Marcel, một triết gia đồng thời là nhà siêu hình học hàng đầu của Pháp.  Những chiều không gian trong bài thơ chính là những hướng trình tâm linh của một tín đồ hành hương về nơi vô tận.  Bài thơ như một tiếng gọi về một hoài vọng xa xăm mơ hồ, đối ngược với hiện tượng bình lặng và ổn định của những giá trị bình lặng và ổn định quen thuộc mà con người trông cậy vào đó để tồn tại. 


** Thật khó tưởng tượng một bài bình nào ngắn gọn, bình dị, chặt chẽ, sâu sắc hơn thế! Tiếng Việt quả thật đã được tác giả sử dụng đạt đến mức vi diệu. Quý vị hãy thử đọc thêm lần nữa xem sao. Còn tôi đã đọc hàng chục lần rồi, lần nào cũng đều thấy hay y như lần đầu ! - TS Hoàng Anh Dũng 


Stopping by Woods on a Snowy Evening

Robert Frost


Whose woods these are I think I know.

His house is in the village, though;

He will not see me stopping here

To watch his woods fill up with snow.


My little horse must think it queer

To stop without a farmhouse near

Between the woods and frozen lake

The darkest evening of the year.


He gives his harness bells a shake

To ask if there is some mistake.

The only other sound’s the sweep

Of easy wind and downy flake.


The woods are lovely, dark and deep,

But I have promises to keep,

And miles to go before I sleep,

And miles to go  before I sleep.


DỪNG CHÂN VEN RỪNG MỘT CHIỀU TUYẾT XUỐNG

Người dịch: Đông Yên 


Rừng trước mặt thuộc về ai ta biết.

Nhà chủ nhân ở mãi tận trong làng;

Ông đâu biết có ta đang dừng lại

Để nhìn rừng phủ kín tuyết đang rơi.


Con ngựa nhỏ cũng dường như tự hỏi

Sao lại dừng trong chiều vắng cuối năm

Khi phía trước không nhà không trang trại

Từ khu rừng đến hồ nước đóng băng. 


Nó giật nhẹ chuông cương như muốn hỏi

Phải chăng đây là lầm lẫn nào chăng.

Lời hồi đáp là gió ngàn đang thổi

Là mênh mông tuyết phủ xuống bốn bề. 


Rừng khả ái, âm u và thăm thẳm,

Nhưng ta còn những hứa hẹn phải đi,

Trước khi ngủ, một hành trình vô tận,

Một hành trình vô tận sẽ phải đi.


 Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2021/03/07/stopping-by-woods-on-a-snowy-evening-duoc-xuat-ban/


          



Thứ Năm, 31 tháng 12, 2020

MUỐI RUỐC SẢ ĐẬU PHỤNG, MÓN ĂN HAO CƠM CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ

 

Làm ruốc sả:

(Theo hướng dẫn của bạn Liên Hưng.)


1. Nguyên liệu chuẩn bị:

1 kg thịt nạc dăm xay qua 1 lần, đừng xay nhuyễn mất ngon.

1kg sả cây lấy phần ngon băm nhuyễn.

1/2kg hạt đậu phộng sống rửa sạch để ráo giã dập dập, đừng nhỏ quá, mất ngon.

200g ruốc Huế

2. Cách làm:

Ướp riêng thịt với tiêu hành nước mắm ngon (tùy ăn mặn hay lạt mà cho nước mắm vì ruốc cũng mặn.)

Ướp chung ruốc, sả, đậu phộng sống đã băm, giã dập. Nén lại cho thấm.

Chừng 6 giờ sau đem  rang. Nếu rang không kịp thì để vào tủ lạnh.

Khi rang nhớ:

Xào thịt trước cho chín và khô nước, nếu nước còn thì chắt nước ra.

Sau đó trộn thịt đã chín vào hỗn hợp ruốc sả đậu. Trộn thật đều.

Nén chặt cho ngấm vào nhau khoảng 2 giờ mới đem rang.

Bắc chảo nóng cho chút dầu ăn tráng đều, sau đó cho hỗn hợp đã trộn vào, mỗi lần rang chừng 1 chén, nhiều quá muối sẽ không vàng đều và lâu khô.

Tay đão đũa liên tục, khi thấy hơi vàng vàng thì vặn lửa riu riu, cứ đão cho đến khi ruốc có màu cánh gián thơm lừng là đổ ra rang tiếp chão khác.

Mỏi chân thì ngồi ghế, mỏi tay thì chịu thôi. 

Khi rang xong, phi một ít hành trộn đều.

Thế là xong, thơm lừng.

Ăn với cơm nóng, dẽo.

Để lửa nhỏ rang mới khô .

Sả lấy dao 2 lưỡi bào cho nhanh, không cần nhuyễn, vì khi rang nó sẽ teo lại.

Ruốc sả rang xong đạt yêu cầu là phài khô, ăn trúng đậu sẽ dòn.

Không cần  lấy vỏ lụa của đậu phụng ra.


Hình từ Facebook của Thanh Chương LH.







 

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2020

MỘT NGÔI CHÙA Ở CAMPUCHIA THỰC HIỆN LỐI SỐNG XANH BỀN VỮNG _ Nguyễn Khắc Phước

 



 Một cuộc khảo sát của Bộ Tôn giáo và Tín ngưỡng Campuchia vào năm 2018 cho biết nước này có khoảng 4.932 ngôi chùa, trong đó có 563 ngôi chùa cổ. Ngoài ra còn có 68.654 nhà sư sống nhờ vào sự quyên góp và cúng dường để sinh sống.

 

Nhưng một ngôi chùa ở tỉnh Prey Veng đang chuyển mình theo một làn gió mới bằng cách trồng lương thực. Ngôi chùa này đã thu hút sự quan tâm của người dân trên khắp Vương quốc vì nơi đó có một không gian xanh với nhiều loại cây và rau được các nhà sư trồng và chăm sóc.

 

Tọa lạc tại làng Snay Proem của xã Senareach Udom ở huyện Preah Sdech, cách Phnom Penh khoảng hai giờ đi bằng ô-tô trên Quốc lộ 1, chùa Serei Sakor Daun Sdoeung được cho là là một trong những trung tâm Phật giáo tốt nhất trong số 500 ngôi chùa ở tỉnh Prey Veng.

 

Được xây dựng lần đầu vào năm 1874, chùa gần như đã bị phá hủy trong thời kỳ Khmer Đỏ. Sau khi chế độ tàn bạo sụp đổ, các nhà sư và dân làng bắt đầu cùng nhau xây dựng lại từ đống đổ nát..

 

Các nhà sư đã trồng hơn 3.000 cây xung quanh chùa, trồng rau và lúa để tự túc lương thực. Họ thực hiện lối sống thân thiện với môi trường và nghiêm cấm sử dụng túi nhựa.

 

Lối sống bền vững được khởi xướng bởi nhà sư trụ trì của chùa, Thầy Im Teang, người tin rằng cây có đời sống ngang bằng với con người.

 

“Chúng ta coi trọng mạng sống của mình, và chúng ta không nên làm tổn thương mạng sống của người khác. Ngay cả cây cối cũng là những sinh vật sống và chúng ta không nên làm hại cây cối hay thiên nhiên vì chúng cũng là những sinh vật sống giống như chúng ta. Tôi yêu cây cối và thực vật,” nhà sư nói.

 

Đức Phật Thích Ca đã thực hiện bài giảng đầu tiên của mình và được giác ngộ dưới gốc cây. Phần lớn cuộc đời của Ngài gắn liền với rừng như được miêu tả trong nhiều bức tranh đầy màu sắc trên tường và trần của chùa.

 

Tuy nhiên, chỉ một số nhà sư Phật giáo tham gia vào việc trồng cây và rau. Ở một số vùng của Trung Quốc, Tây Tạng và Nhật Bản, các tu viện Đại thừa thường tiến hành canh tác bằng cách trồng trọt hoặc chăn nuôi.

 

Giống như các quốc gia Đông Nam Á khác, các tu viện Theravada ở Campuchia chủ yếu dựa vào sự quyên góp vì các nhà sư dành cả cuộc đời của mình để tu học.

 

Các nhà sư Theravada vẫn thực hành theo cách truyền thống là đi khắp nơi thu vật phẩm cúng dường, nhưng đại dịch Covid-19 đang hoành hành đã tạo ra một thách thức đối với thực hành này, vì những các Phật tử được yêu cầu ở nhà và một số gặp khó khăn về tài chính.

 

Việc làm nông nghiệp tại chùa Serei Sakor Daun Sdoeung được coi là một ví dụ điển hình về một phương pháp tự chủ và bền vững.

 


Thầy Teang cho biết các nhà sư ở chùa của ông đã làm nông và trồng cây được khoảng 10 năm nay, chủ yếu vì lý do sức khỏe, kinh tế và môi trường.

 

“Tôi coi trọng sức khỏe tinh thần và thể chất và tôi tin rằng trồng cây ăn trái và rau màu có thể đóng góp cho cả hai khía cạnh của cuộc sống. Trồng rau hữu cơ giúp các nhà sư và dân làng gần đó tăng cường sức khỏe nhờ họ vận động thân thể và đổ mồ hôi khi làm việc trên đất chùa.

 

“Ngoài ra, nhà chùa không phải bỏ tiền ra mua rau và những thực phẩm có hại cho sức khỏe.

 


“Một số loại trái cây và rau quả được coi là không tốt cho sức khỏe do bị phun hóa chất và các phương pháp sản xuất nông nghiệp phi đạo đức khác. Khi tiêu thụ những thứ như vậy, chúng ta sẽ đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao hơn và cuối cùng phải chi nhiều tiền cho việc chăm sóc sức khỏe,” Thầy Teang nói.

 

Vườn rau của chùa chỉ có diên tích 50m x 10m. Nhưng trong không gian đó, có rất nhiều loại trái cây và rau quả bao gồm xà lách, rau muống, rau bina, cải xoăn, cà tím, cà chua, ngô, sả, bí đỏ, dừa thơm, hoa súng, chuối, mít, xoài, táo hồng. và đu đủ.

 

Chúng được trồng bằng cách chỉ sử dụng phân bón tự nhiên. “Tôi cho rằng trồng rau hữu cơ không khó. Kỹ thuật quay trở lại thời kỳ đầu của tổ tiên chúng ta.

 

“Trồng và ăn những gì bạn trồng sẽ tốt cho sức khỏe. Khi có sức khỏe, bạn mới có thể học tập và làm việc hiệu quả. Không phải vô cớ mà người ta nói: Bạn chính là những thứ mà bạn đã ăn," Thầy Teang nói.

 

Những ai có nhu cầu học cách trồng rau hữu cơ có thể ghé qua chùa. Các nhà sư sẵn sàng chia sẻ kiến thức về canh tác hữu cơ.

 

Lối sống lành mạnh này cũng đã truyền cảm hứng cho người dân trong làng trồng thực phẩm hữu cơ. Họ học được kỹ thuật canh tác từ các sư thầy ở chùa và trồng trọt để nuôi sống gia đình, thậm chí tạo thêm thu nhập.

 

Để giúp dân làng trồng lương thực, chùa đã chia sẻ một số cây lúa giống với người dân khi mùa mưa bắt đầu. Thầy Teang nói: “Chúng tôi cũng chuẩn bị hạt giống rau cho những người cần chúng.”

 

Vào mùa thu hoạch, các sư thầy thay nhau ra đồng gặt lúa. Và khi khó khăn, chùa Serei Sakor Daun Sdoeung cũng giúp dân làng đỡ bằng cách chia sẻ gạo và rau của mình như là vật phẩm cứu trợ..

 

Thầy Teang nói: “Chúng tôi có nhiều rau và trái cây hơn nhu cầu tiêu thụ hàng ngày. Ưu tiên của chúng tôi là dành chúng cho dân làng gần đó. Người ở xa đến cũng có thể lấy nếu chúng tôi còn dự trữ ”

 

Bên cạnh việc trồng thực phẩm, thậm chí có những vườn hoa mà Thầy Teang cho biếtchúng được xem như là chất xua đuổi côn trùng để ngăn sâu bệnh phá hoại mùa màng của họ. Các cây dại cũng được trồng và có biển ghi tên loài cây để người dân, đặc biệt là trẻ em tìm hiểu về các loại cây rừng.

 

“Nếu phải chặt bỏ một cây thì nên trồng lại hai cây. Cây cối cung cấp một tán xanh cho trái đất và các sinh vật khác. Chúng bảo vệ trái đất khỏi sự nóng lên toàn cầu, ”  sư trụ trì nói và cho biết thêm rằng chùa được mệnh danh là ngôi chùa Phật giáo xanh nhất ở Campuchia.

 

Mặc dù trang Facebook của chùa có 11.000 người theo dõi, sư trụ trì cảm thấy nhẹ nhõm vì chùa không đông đúc trong dịp Tết của người Khmer.

 

Một thông báo trên Facebook của chùa cho biết: “Quý vị có thể đến chùa để cầu nguyện và cúng dường thức ăn cho các nhà sư như một việc làm tốt bất cứ lúc nào.

 

“Nhưng điều quan trọng nhất là quý trọng sức khỏe của quý vị. Chúng tôi không thất vọng khi thấy ít người đến hơn. Thay vào đó, chúng tôi rất vui vì ngày càng có nhiều Phật tử quyết định ở nhà, giữ gìn vệ sinh và thực hành giản cách xã hội. Chúc quý vị trường thọ và làm nhiều việc thiện hơn.

 

"Nguyện cầu tất cả đau khổ, bệnh tật và sợ hãi biến mất khỏi thế giới." 

 

 

Nguyễn Khắc Phước thuật lại từ bài 

Pagoda shows the way to sustainable green living

của tác giả Pann Rethea đăng trên Phnom Penh Post ngày 19/4/ 2020.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

BÌNH MINH ĐANG LÊN _ Truyện ngắn của Khain Swe Oo - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

 

Khin Swe Oo  (1933 -2019)


Khin Swe Oo  (1933 - 2019)

Khin Swe Oo là con gái của Maha Swe, một nhà văn dưới thời thuộc địa Anh.

Bà lấy chồng năm 1953 rồi ly hôn sau khi sinh con gái Parela Swe.

Bà đã viết 30 bài báo, hơn 50 truyện dài và hơn 200 truyện ngắn. Những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của bà viết về các cuộc đấu tranh yêu nước của nam nữ thanh niên Myanmar chống chế độ thuộc địa. Bà cũng tích cực trong các hoạt động yêu nước. Truyện ngắn của bà viết về các vấn đề xã hội, các mối quan hệ và về sự chính trực khi đối mặt với nghịch cảnh.

Bà tốt nghiệp Cử nhân Nghệ thuật tạo Đại học Mandalay năm 1956.

Bà bắt đầu viết chơ tờ Thandaw Sint Journal từ 1946. Năm 1961, ở tuổi 28, bà xuất bản lần đầu cuốn tiểu thuyết Doe Tine Htar Ni (Dân tộc chúng ta) và nhờ nó mà bà trở nên nổi tiếng.

Năm 1963, bà nhận được Giải thưởng Tuyển tập Truyện ngắn dành cho cuốn Nyeinchan Par Say. Nhật ký Sagaing Thamee là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của bà được phát hành vào năm 2003. Bà giành được giải thưởng Thành tựu Trọn đời, một Giải thưởng Văn học Quốc gia Myanmar vào năm 2012.

 

BÌNH MINH ĐANG LÊN

1

Những bông sen hồng xinh tươi đang tưng bừng nở trên làn nước mát. Cái ao đầy ắp hoa sen và  nhiều loại hoa nhỏ khác. Những con nhái chễm chệ trên những chiếc lá xanh đu đưa trong gió. Ma Ein muốn giữ cho mình vẻ điềm tĩnh và nói với Ko Toh.

“Đêm qua họ phải lấy nước từ ao này, anh biết không?”

“Thồi đừng nói chuyện ấy nữa,” Ko Toh nói. “Điều cần bàn bây giờ là làm sao mình báo cho khách mời đây? Mình phải đợi đến khi họ đến…” anh tỏ vẻ bực tức, không nói nữa.

“Vâng, em nghĩ Bố, Mẹ và Dì sẽ đợi họ đầu đường… nhưng phải đợi một giờ rưởi hoặc hơn nữa. Kotoh à, anh nên ra đó với họ. Nhưng em nghĩ có người sẽ không đến nếu họ đọc báo sáng nay.”

“Tại sao chuyện này lại xảy ra hôm nay? Ước gì nó xảy ra trễ hai, ba ngày nữa…”

“Năm, sáu ngày nữa thì tốt hơn, đồng ý không?”

Không hiểu sao Ma Ein lại muốn cười. Sáng nay cô cười một mình khi nghĩ về chuyện này, chuyện kia. Điều ấy đã khiến bà dì chưa chồng có đôi mắt hoang dại và dễ khóc hết sức bực mình.

“Trong hoàn cảnh như thế này mà con cười được hả?” bà mắng cháu.

“Vậy thì con nên khóc à? Con chẳng thích khóc tí nào vì không làm gì được nữa,” Ma Ein cãi lại. Lời của cô dội vào con tim trống rổng của mình. Chẳng làm gì được nữa, chẳng làm gì được nữa. Đó là sự thật, mà nếu không thì cũng chẳng làm gì được nữa.

Đêm hôm trước, nhà của Ma Ein, nhà của cô dâu dự định tổ chức đám cưới sáng nay, đã bị cháy rụi. Đó là đêm kinh hoàng khi cả thế giới dường như sụp đổ: lửa cháy dữ dội, những tia lửa đỏ rực bay lên, những đám khói đen cuồn cuộn, những thùng nhiên liệu nổ, người lớn la hét, trẻ con gào thét.

2

Tai họa mà Ma Ein và chú rể  Ko Toh phải chịu đựng giống như cây đèn cầy trong đám cháy rừng.

Kotoh đã chạy từ nhà anh trên phố ngay khi vừa được tin.

Dưới vầng trán rộng đẫm mồ hôi, đôi mắt thông minh của anh phủ màn lo lắng. Vào lúc anh đến, lửa đã hạ đôi chút, để lộ ngôi nhà của Ma Ein chỉ còn những cái cột đen: xấu xí, què quặt, trơ vơ.

“Người ta nói chủ tiệm tạp hóa dùng đèn cầy khi đóng cửa,” Ma Ein giải thích. “Và tiệm của ông thì chứa toàn đồ dễ cháy! Hộp diêm, đèn cầy…”

Hai phần ba khu dân cư đã biến thành khói. Ngọn lửa bùng phát vào lúc 6:30 tối và được dập tắt hoàn toàn 35 phút sau đó. Trong thời gian đó, nhà ở, cửa hàng, cây cối  đã bị ngọn lửa thiêu rụi. Giống như đang xem một vụ nổ nguyên tử trên truyền hình, Ma Ein nghĩ vậy. Ko Toh buồn rầu nói:

“Cải tủ chén bát và cái giường mới, thế là xong!”

Ma Ein đáp ngay, “Chớ còn gì nữa.”

Có lý do khiến cô không còn đau khổ vì mất mát. Ko Toh lại thở dài, lần này nhẹ hơn. Cái gường cưới và cái tủ chén là quà tặng của bố mẹ cô. Những đồ vật không có sự sống đó cũng đã qua đời, chứ sao nữa, Ma Ein suy nghĩ.

“Anh sẽ mua cái mới,” Ko Toh nói.

“Không cần đâu, thật đó anh,” Ma Ein nói. “Gia đình em sẽ xoay xở.”

“Ba mẹ em có nói gì về đám cưới không?” anh hỏi.

“Chẳng nói gì nhiều. Chẳng ai biết phải làm gì.”

“Ôi, mẹ ơi! Mọi thứ đều bị đảo lộn.”

Giọng sắc bén của Ko Toh biểu lộ sự bực tức. Ma Ein thấy bố mẹ của cô đang cầm cái cây khều vào đống tro tàn của ngôi nhà, cách chỗ cô đang đứng với Ko Toh không xa. Một số người thuộc lực lượng an ninh và chính quyền đang đi quanh đám cháy, trong tay họ là những kẹp giấy và những ngòi bút đã bật nắp.

“Đừng lo lắng gì về đám cưới,” Ma Ein nói. “Bố không phải là chủ tiệm vàng giàu có, mà chỉ là một người thợ mộc, tài sản của ông chỉ có mấy tấm gổ.”

“Ba mẹ có buồn không?” Ko Toh hỏi.

“”Hứ?”

Mặc dù cô nghe rõ nhưng còn bối rối chưa trả lời liền được

“Ồ, nhiều người cũng chịu tai họa như mình thôi, anh biết đó,” cuối cùng cô trả lời. Cô nghe Kotoh thở dài lần thứ ba. Ko Toh, với vẻ đàn ông và đẹp trai, có vẻ nặng lòng với gia đình cô. Cô muốn làm vơi bớt gánh nặng ấy.

Từ lúc nửa đêm đến giờ, Ma Ein cố gắng giữ bình tỉnh và thanh thản. Trong khi mẹ cô chuẩn bị cúng đền bữa sáng, lần này chỉ kiếm được mấy trái ổi, Ma Ein đã đi xuống bờ ao. Những chiếc lá cháy dỡ và đống rác đang âm ỉ làm cô bực mình nhưng đầu cô nhẹ hơn đêm qua. Cái ao bị đám lửa bao quanh hôm qua bây giờ trở thành chỗ trú nhỏ với mặt nước phủ sen mát mẻ và xanh tươi. Làn gió nhẹ nhàng lướt trên mặt ao. Cây muồng già với những chiêc hoa màu tím mong manh nghiêng mình trên mặt nước. Ánh nắng len qua những tán cây rợp bóng mát bên bờ đối diện. Cô nhớ lại vẻ mặt của Ko Toh đêm qua khi cuối cùng anh vâng lời bố mẹ cô để về nhà nghỉ. Cô hy vọng vẻ u ám đó sẽ tan dưới ánh bình minh khi anh trở lại sáng nay, mặt anh sẽ nhẹ nhàng như nắng sớm.

3

Bố mẹ cô cuối cùng quyết định dời lại đám cưới vào ba tuần sau nhưng Ko Toh muốn ít nhất là một tháng để sắm lại đồ dùng cho cô dâu và chuẩn bị cho đám cưới được tốt đẹp. “Đó là vì con nghĩ đến Ma Ein,” anh nói.

“Thực ra, không cần đâu,” Ma Ein phản đối. “Ko Toh à, gia đình em có thể xoay xở.”

Vẻ bực mình thoáng hiện trên mặt Ko Toh. Ma Ein cười và giả vờ không chú ý. Cô tiếp tục lặp lại trong trí câu “Không làm gì được nữa” như là một mật chú. Có nhiều người khác còn tệ hơn cô nhiều và rốt cục thì biết làm gì đây? Cô cũng đánh giá cao những lo lắng của Ko Toh về việc tổ chức đám cưới sao cho tốt.

“Em chỉ là mớ rau héo cần vứt đi,” anh giận dữ cần nhằn với cô. “Sao em cứ nói những điều ngu xuẩn đó với bố mẹ, những người đang lo cho em.”

“Em chỉ nói sự thật là không cần nhiều lắm, sao lại ngu xuẩn được?” cô nói to.

“Em không bao giờ biết điều mình nói sẽ dẫn đấn cái gì,” anh trả miếng.

Lúc này, không chỉ giọng nói mà nét mặt của anh cũng nhuốm màu giận dữ. Ma Ein vẫn cười nhưng cô không chịu thua.

“Anh biết rằng em không bao giờ muốn lo lắng hay sợ hãi chuyện gì.  Vậy nên, nếu chúng ta có một… hai… hoặc ba vấn đề, chúng ta phải đối mặt với nó. Nếu chúng ta có nhà, thì tốt. Nhà cửa, bình lọ, giường, tủ, đồng hồ, nếu có thì tốt, nếu không thì sao? Nếu có thì dùng, nếu không có thì không dùng. Em đọc hôm kia, trên tạp chí nghệ thuật, một biên đạo múa nói: “Tôi không ước ao mình có đủ mọi thứ. Nếu cần, tôi có thể mượn giày để mang!” Ông ấy nói đúng nếu anh nghĩ về vụ hỏa hoạn này!”

“Thôi, đủ rồi!” Kotoh gầm lên. Đó là lần đầu họ cãi nhau và không phân định thắng thua. Mẹ cô, đang thêm củi vào dưới ấm nước đang sôi, gọi cô, “Này con gái, đừng nói bậy bạ như thế.” Bố cô đang lặng lẽ phì phà khói thuốc, mắt nhìn vào khoảng không. Sau khi Ko Tọ đi mua đồ ăn trưa, bố cô nói với mẹ cô khi cô đang cố kéo mấy cây cột đã cháy thành than.

“Con bé nói đúng đó, bà biết đấy. Khi tai họa ập xuống, người ta phải đối mặt với nó. Nếu không có gường thì nằm trên nền nhà. Không có bát thì dùng lá chuối. Không có tủ thì bỏ đồ vào giỏ. Tôi không lạc quan tếu đâu, Ma Htar Yin. Mọi thứ đều tùy vào sức mạnh của tâm trí chúng ta, cái đó là quan trọng nhất. Mới đi bộ chừng năm trăm mét mà có người đã kiệt sức, chỉ giặt mấy cái đồ mà đã than van, bị tàn lửa bay làm thủng áo tí xíu mà đã khóc lóc.”

Mẹ chỉ bình luận: “Chuyện đó thì tôi không có ý kiến, nhưng Ma Ein này, đừng cãi cọ nhiều với thằng Ko Toh. Ý của nó tốt đấy. Cho dù con không đồng ý, cũng nên giữ mồm giữ miệng, con hiểu chứ?”

“Dạ, con hiểu,” Ma Ein nói.

4

Po Htoo đến chơi khi Ma Ein đang nhìn Ko Toh  vô ý vấp chân vào cái cột nhà cháy. Anh này cùng tuổi hai mươi với Ma Ein và họ là bạn bè từ hồi còn bé.

“Hôm qua dinh thự bằng vàng, hôm nay là một đống than, hỡi trời!”  Po Htoo nói đùa và làm bộ đang khóc.

Ko Toh nói với anh: “Này, nghe nói sách gióa khoa của bạn cháy hết rồi.”

“Đúng vậy.”

“Thế thì thi cử sắp tới thế nào?”

“He he, chỉ là trò chơi thôi.”

“Tầm bậy, nào. Bạn định bỏ thi, hả? Bạn đã luyện thi kỹ lắm mà…”

“Vâng, mình sẽ thi chứ.”

“Vậy thì tốt. Đừng có giỡn nữa.”

“Vậy mình phải khóc sao? Nếu mình khóc, sách mình cũng đã cháy rồi. Như bạn Cho Yi, bạn ấy cứ gào khóc miết.” Quay sang Ma Ein, Po Too nói: “Ma Ein, sao chưa đi an ủi bạn mình?”

“Tội nghiệp Cho Yi,” Ma Ein nói. “Nó học chăm lắm.”

“Chà chà, chẳng biết việc gì mà làm đây!” Po Htoo tuyên bố. Ma Ein buồn cười. Po Htoo cũng đang niệm thần chú của cô đấy!

Trong chốc lát, Po Htoo đã nhổ tất cả các cột nhà cháy lên. Anh không ở lại ăn trưa mặc dù mọi người nài nỉ, anh nói đã ăn no rồi.

“Buổi tiệc trước đám cưới, hả?” Anh chọc họ. “Bữa tiệc sang bên đống tro tàn… dù ưng nhưng không dám vào bàn…” anh hát.

Ma Ein cười với anh ấy nhưng bắt gặp vẻ khó chịu của Ko Toh nên tắt giữa chừng. Thế giới này không thể chỉ tràn ngập toàn khổ đau nhưng cũng không thể ngăn cản bằng chỉ trích.

5

Cha cô và Ko Toh đã chọn ngày đám cưới: đúng y một tháng và một tuần từ hôm nay. Lần này, Ko Toh cương quyết sẽ mua chiếc giường cưới và tủ chén. Ma Ein không hiểu tại sao hai thứ này lại quá quan trọng trong lễ cưới như vậy. Khi cô dại dột cắt ngang câu chuyện của những người trong nhà bằng nhận xét ‘nếu chúng bị cháy nữa thì sao’ khiến Ko Toh nổi giận và mẹ cô tát vào lung cô.

Bà Dì can đảm ủng hộ cô, tuyên bố rằng mọi người nên đối xử nhẹ nhàng với cô, “Mọi thứ đều vô thường, phải vậy không? Có đúng không nếu cứ bám vào vật chất? Có phải đức Phật dạy vậy không?”

Kế đó, Po Htoo chọc cười bằng cách bắt chước một nữ hoàng bị mất cắp dây chuyền vàng. Thế giới này giống như một nhà ảo thuật: bắt người ta khóc rồi cười liền sau đó.

Anh trai của Po Htoo đã cố gắng cứu Ni Tut, một cậu bé 12 tuổi ra khỏi lửa nhưng không kịp. Khi anh đến báo tin, một vạt da trên ngực của anh bị cháy đỏ khiến Ma Ein không dám nhìn. Lần đầu tiên cô thấy Mẹ khóc vì sau khi em bé mới sinh của bà bị mất, bà đã cho Ni Tut bú sữa của mình. Thấy mẹ khóc, Ma Ein đi về phía ao và cũng bắt đầu khóc.

“Em đi đâu vậy?” Ko Toh gọi. Cô không trả lời; để cho anh ta nghĩ cô không thèm nói nữa nếu anh ta muốn.

Ngay bây giờ cô không có giường cưới, không tủ chén, áo cưới cũng không. Ngay cả cô không muốn lấy Ko Toh nữa. Thế gian này, thế gian tàn bạo này giống như một kẻ bất nhân đang đẩy người ta vào lò thiêu, và Ko Toh có vẻ như đang hợp tác chia phần. Cô muốn đẩy anh ta xuống hồ. Nếu cô nói cho anh biết, chắc anh sẽ nổi khùng ghê lắm! Ý nghĩ đó làm cô muốn cười lần nữa.

Ngay lúc ấy một con nhái nhảy từ một lá sen này qua lá sen khác khiến hoa sen lắc lư. Một giọt nước từ cánh hoa rơi xuống. Giọt nước này, cho dù đó là giọt nước mắt của hoa cũng không ngăn được hoa sẽ nở khỏe, cái cuống của nó giống như chiếc cổ mảnh khảnh vươn thẳng lên. Ma Ein duổi thẳng lưng, ngẩng cằm và vươn cổ giống như sen. Khi cô quay mặt về phía nhà, mắt cô đã ráo lệ.

 Khin Swe Oo 

 

 


#120. BỆNH ĐAU DẠ DÀY (ĐAU BAO TỬ)

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2020

NHÀ BẾP - Truyện ngắn của Lily Yulianti Farid (Indonesia) - Nguyễn Khắc Phước dịch.



Lily Yulianti Farid, còn gọi là Ly, nhà báo - nhà văn, sinh 1971 tại Makassar, tỉnh Nam Sulawesi, miền đông Indonesia.

Ly tốt nghiệp Đại học Hasanuddin, Makassar với bằng kỹ sư nông nghiệp, và bắt đầu sự nghiệp văn học của mình với tiểu thuyết vừa "Identitas" khi còn học tại trường.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Ly làm việc cho Nhật báo Kompas (1996-2000). Năm 2001, chị đến Đại học Melbourne để lấy bằng thạc sĩ về "Giới tính và Phát triển". Năm 2010 chị đăng ký học tiến sĩ với đề tài "Giới tính và Truyền thông" cùng một trường đại học và hoàn thành vào năm 2014.

Trong thời gian học ở Úc, Ly làm việc cho Đài phát thanh Australia, Melbourne (2001-4), Đài phát thanh Nhật Bản và Đài NHK ở Tokyo (2004-8).

Truyện ngắn của Ly xuất hiện trong nhiều hợp tuyển văn học. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của chị, Makkunrai, xuất bản đầu năm 2008 gồm mười một truyện dựa trên các chủ đề về giới, tham nhũng, đa thê và chính trị từ quan điểm phụ nữ, và tập tiếp theo, Maiasaura, xuất bản nửa năm sau đó.  Tập truyện thứ ba của chị có tên Family Room, được dịch sang tiếng Anh.

Lily Yulianti Farid là người khởi xướng và giám đốc của "Lễ hội nhà văn quốc tế Makassar" (MIWF) vào tháng 6, 2011 ở Makassar. Chị cũng tham dự các lễ hội của các nhà văn ở một số quốc gia như Singapore, Úc, Pháp, Hà Lan và Hồng Kông.


NHÀ BẾP
Lily Yulianti Farid (Indonesia)
Nguyễn Khắc Phước dịch.

Ruth yêu bột mì. Mẹ yêu nhà bếp. Còn tôi yêu Ruth và Mẹ. Tôi lớn lên bên cạnh cái bàn to ở nhà bếp, ngồi xem Ruth rây bột mì và trộn nhiều thứ bột nhão. Tôi tập đi bằng cách nắm váy Mẹ khi bà băm hành, luộc khoai, và thái thịt.

Mẹ tôi, một phụ nữ đẹp và vui tính, khi làm việc trong bếp thường hát những bài nhạc xưa của Frank Sinatra: Cho tôi bay đến chị Hằng, Cho tôi chơi với ngàn sao…

Trên đùi Ruth, tôi được nâng niu trên cái xà-rông luôn bốc mùi gia vị. Trên đùi Mẹ, tôi ngủ gật trên vạt váy được là rất kỹ. Đôi khi tôi đái dầm khiến Mẹ sợ hãi nhảy lên, thấy cái váy ướt và có mùi nước tiểu. Thế nhưng trong những lần như vậy, mẹ tôi có cách ứng xử đặc biệt và không bao giờ khiến tôi cảm thấy có lỗi. “Con gái mẹ giỏi lắm. Con vừa vẽ đươc mấy hòn đảo nhỏ đó nhé!” Mẹ nói.
Dỉ nhiên Ruth là người phải lau khô những hòn đảo mà tôi tạo ra trên đệm, trên váy của Mẹ, trên xà-rông của chị, và trên thảm nữa. Nhiều năm sau, khi kể cho tôi nghe về thời thơ ấu của tôi, bằng cái giọng địa phương của vùng Ambon và hài hước không kém Mẹ, chị nói: “Hồi em còn bé, em vẽ một hòn đảo giống y đảo Java!”
Cái vệt nước tiểu của tôi trông giống đảo Java rất có thể chỉ có trong trí tưởng tượng của Ruth mà thôi. Tôi thực sự nghi ngờ Ruth biết bàn đồ của đảo Java có hình thù ra sao. Nhưng nếu trí tưởng tượng của chị làm chúng tôi cười thì chẳng có lý do gì để chống đối.

Thực ra Ruth cũng có chút ám ảnh về Java bắt nguồn từ những câu chuyện hồi còn bé chị nghe mấy bà già trong làng – những phụ nữ có chồng từng phục vụ trong quân đội Hoàng gia Hà Lan Đông Ấn, mà vào thập niên 1940, suốt cuộc chiến tranh dành độc lập, họ đã theo chồng từ thành phố này đến thành phố khác khắp đảo Java. Ruth kể hồi còn bé chị đã mơ được đi xe lửa ở Java.

“Vậy sao khi rời Ambon, chị không đi Java?” tôi hỏi khi đang ở trong nhà bếp rộng rãi của gia đình tôi.

Ruth lục lại trí nhớ: “Chị thường bị say sóng và đi Java mất nhiều thời gian lắm, nên chị quyết định tốt hơn nên đến ở với chú Makassar cho gần hơn.”

Tôi lớn dần đến tuổi có thể giúp đánh bột nhão, băm hành, gọt khoai, và giúp Mẹ thực hiện đơn đặt hàng nhiều loại bánh và thực phẩm mà bà nhận được. Tôi dành nhiều thời gian cùng Ruth rây bột đến nỗi tôi yêu bột mì luôn. Hình ảnh bột qua rây và rơi xuống khiến tôi tưởng tượng tuyết rơi đâu đó trên trái đất – như tôi đã xem trong sách tranh và trên truyền hình.
“Nhìn này, Ruth, bột rơi trông như tuyết nhỉ.”
“Tuyết là gì, cô chủ nhỏ? Chị không biết.”
“Thứ này ở nước ngoài mới có. Nó trắng và mềm giống như nước đá bào.”

Rõ ràng vậy mà chị vẫn không hiểu nên chị hỏi: “Ở Java có tuyết không?”

Tuyết ở Java? Tôi cười lớn. Tôi cho rằng trong trí tưởng tượng của chị, Java là nơi tận cùng của thế giới, nơi thứ gì cũng có. Người giúp việc trung thành này, lớn lên bên bờ biển của thị xã Ambon, đã ở với gia đình chúng tôi khá lâu. Suy nghĩ của chị, cuộc sống của của chị, ngay cả cách cư xử của chị, thật đơn giản. Chị chẳng yêu gì ngoài bột mà khi rơi từ cái rây xuống bát trông như là đang nhảy múa, và hình ảnh nầy hẵn đã khiến chị nhớ lại những bãi cát trắng nơi quê nhà – thứ cát mà nhiều năm sau đó, nhuộm máu của những cuộc xung đột vì hận thù tôn giáo, tạo ra mùi hôi thối bốc lên khắp hòn đảo rợp bóng dừa.

Sau một thời gian ở với chú Makassar, Ruth tìm được một công việc đơn giản: nghề giữ em! Mẹ gặp Ruth ở bệnh viện phụ sản nơi Mẹ sinh tôi và chị đang làm cho khoa dinh dưỡng và trong nhà bếp của bệnh viện. Mẹ đề nghị chị công việc chăm sóc tôi và chị đồng ý. Và rồi, ngay cả sau khi tôi hết dùng tả và đi được, chị quyết không rời xa tôi. Mẹ cũng không muốn chị xa tôi sau cơn bão hôn nhân làm rung chuyển gia đình chúng tôi.

Vào cuối thập niên 1990, tình trạng bất ổn nổ ra ở Ambon, khi lực lượng dân quân Kitô giáo và Hồi giáo gieo rắc sự chết chóc và hủy diệt, Ruth, khi đó đã cao tuổi rồi nhưng vẫn rây bột trong nhà bếp của chúng tôi, đã khóc gào thảm thiết trước hình ảnh kinh khủng và ghê rợn về hòn đảo trên truyền hình: "Tại sao họ giết nhau? Tại sao?"

Vừa buồn vừa giận, chị dùng hết sức ném mạnh bột bánh mì và bột bánh rán xuống bàn. Càng ngày sự hủy diệt ở Ambon càng cao, bánh mì do chị làm càng mềm, càng dẻo hơn.

“Mày đang trở thành chuyên gia làm bánh mì cao su,” Mẹ bình luận đơn giản về cách biểu hiện nỗi buồn và giận của chị.

Bột bánh mì và bánh rán mà Ruth sản xuất trong nhà bếp trong khi xem những cảnh hủy diệt khủng khiếp ở Ambon trở thành loại bột dẻo nhất mà chị từng sản xuất. Nhưng đừng hỏi về mùi vị của nó! Theo trí tưởng tượng bằng vị giác của tôi, món thạch dâu tây mà chị làm có mùi thum thủm của máu làm tôi muốn lộn ruột.

*

Nhà bếp của chúng tôi trở nên bận rộn hơn bao giờ hết. Các đơn đặt hàng mỗi ngày một tăng, phần lớn đến từ các văn phòng chính phủ. Hình như họ không còn tổ chức các cuộc họp mà không có nhà nước trả tiền trước. Nhiều viên chức  đã đến để thương lượng dịch vụ ăn uống với mẹ tôi.

Những viên chức ấy thường cúi xuống thảo luận, nhìn qua lại với nhau rồi đằng hắng. Đôi khi, họ giả vờ bận rộn bấm phím máy tính, tổng hợp các số liệu như học sinh tiểu học trong kỳ thi toán, sau đó họ nói: "Trời ơi, tôi thực sự xin lỗi, bà Andis, nhưng ngân sách cho cuộc họp của chúng tôi chỉ là năm triệu rupiah. Bà có thể giảm giá được không?" Hoặc: "Thế này có được không, bà Andis, nếu chúng tôi trả trước ba tháng để hóa đơn của tháng này được kết hợp với ngân sách dành cho các cuộc họp trong hai tháng tới? Sẽ tạm ứng cho bà một ít."
Mẹ luôn kiên nhẫn mỉm cười trong khi giải quyết các yêu cầu của khách hàng. Thậm chí bà còn giữ bình tĩnh đúng mực khi một quan chức chính phủ đến gặp bà, và sau khi hắng giọng, đưa cho bà một biên lai trống: "Xin lỗi, bà Andis, nhưng bà làm ơn không điền vào biên lai, có được không? Chỉ cần chữ ký của bà là đủ.  Được thôi, phải không, thưa bà? Đối với các cuộc họp sắp tới, chắc chắn chúng tôi sẽ đặt hàng tất cả thực phẩm ở chỗ bà."

Khi người đàn ông bước đi, Ruth nhìn qua cửa sổ nhà bếp, lắc đầu và càu nhàu: "Mấy ông viên chức chính phủ đó mà! Điều duy nhất họ muốn là giảm giá."

*

Ruth, Mẹ và tôi đắm mình vào công việc trong nhà bếp, nơi chúng tôi rất yêu thích. Mỗi ngày một thực đơn mới. Cơ bản, ngày nào cũng bột, rau và thịt lấp đầy cuộc sống của chúng tôi. Tuy nhiên, thời gian gần đây, một cái gì đó kỳ lạ đã xảy ra. Tại sao Mẹ lại chảy nước khi cắt hành tím? Mẹ có khóc không? Tại sao Mẹ đập bột nhão mạnh đến nỗi cái bàn rung lên? Mẹ có giận không? Tại sao Mẹ lại khóc? Mẹ giận ai?

Mẹ bước sầm sầm khiến nhà bếp rung lên. Tôi nghĩ cơn giận của Mẹ có thể làm vỡ gạch men nền nhà. Tiếng nồi niêu soong chảo đụng nhau làm tai tôi phát đau.

Công việc cung cấp thực phẩm của Mẹ phát triển mạnh mẽ; nhà bếp của chúng tôi bận rộn hơn bao giờ hết. Tại sao tâm trạng Mẹ lại xấu như vậy? Tiếng soong nồi va đập càng ngày càng to. Cả Ruth và tôi đều cảm nhận có điều gì đó không hay sắp xảy ra.

Dù tình hình nhà bếp căng thẳng nhưng chị Ruth và tôi không lên tiếng. Có quá nhiều việc phải làm: rây bột, rán bơ, nghiền mịn sô-cô-la, chiên gà, nghiền ớt. Trong khi đó, những người đàn ông mặc đồng phục công chức liên tục đến nhà chúng tôi, mang theo hóa đơn trống, yêu cầu giảm giá, đặt hàng, giao thêm biên lai trống, đặt thêm đơn hàng, v.v., không ngớt, như bánh xe guồng nước.

Ruth và tôi có khả năng hoàn thành tất cả các đơn đặt hàng, và có thể vừa làm nhiệm vụ vừa nói nhỏ với nhau. Nhưng bây giờ, vì lý do gì đó, chị đã mất đi sự chủ động, tinh thần và tính tự nhiên.
Ruth, người đã chăm sóc tôi từ khi tôi còn nhỏ, có làn da ngăm đen, vẻ rắn rỏi, đã chọn cách vùi đầu vào chậu bột. Chỉ có bàn tay chị đang bận rộn, xoa bột giữa ngón cái và ngón trỏ để kiểm tra độ mịn của nó. Chất bột trắng mịn rơi tự do qua các ngón tay của chị, trở lại đáy chậu.

Trong nhiều ngày, chúng tôi theo dỏi lối cư xử bất thường của Mẹ. Bà vẫn nhận đơn đặt hàng của các công chức với vẻ mặt trống rỗng thay vì nụ cười thân thiện. Người mẹ xinh đẹp của tôi, thường rất vui vẻ và thông minh trong những cuộc trò chuyện, đã trở thành một sư tử cái gầm gừ, sẵn sàng tấn công.

Khi tôi chào Mẹ đúng chuẩn mực bằng câu: "Mẹ ơi, hôm nay Mẹ khỏe không?" - từ một trong những bài hát yêu thích của tôi - Mẹ nạt tôi: “Hỏi làm gì. Giải quyết mấy đơn đặt hàng đó đi!"

Giọng gắt gỏng của Mẹ làm tôi choáng váng và tôi vội vã rút lui vào góc bếp, khật khờ như một con gián bị xịt thuốc. Đây là lần thứ hai tôi thấy sự thay đổi như vậy ở Mẹ. Lần đầu tiên cách đây nhiều năm khi Mẹ đuổi cha tôi ra khỏi nhà sau khi phát hiện ông đã lấy một người vợ khác. Lúc đó tôi còn nhỏ, mới sáu tuổi và không nhớ rõ sự việc. Điều tôi nhớ là Ruth và tôi đang đợi trong bếp, và chị cố gắng đánh lạc hướng sự chú ý của tôi khỏi những tiếng la lối trong phòng khách bằng cách cho tôi ăn một lọ sôcôla. (Tôi đã khóc, cảm thấy đau đớn, và kể từ đó, tôi đã hứa với bản thân mình sẽ không bao giờ ăn sôcôla nữa trong đời!)

Lần này sự giận dữ của Mẹ rõ ràng có một lý do khác. Và vào ngày thứ tư sau khi nhà bếp trở thành một chiến trường đầy căng thẳng, Ruth cuối cùng cũng mở miệng: "Lần này có vấn đề thực sự", chị bắt đầu thì thầm tin tức về cơn bão tố khiến tôi bị chấn động.

Mẹ là một người phụ nữ xinh đẹp yêu nhà bếp; người đã chế biến nhiều món ăn bằng tình yêu và sự tận tâm; và bây giờ, người băm thịt, tôm và hành như thể cố gắng cắt bỏ quá khứ của mình. Dường như bà đang ở trong một hang động tối tăm và bí ẩn, không phát ra ánh sáng để khỏi tiết lộ những gì được giữ bên trong. Y như bà giữ những công thức nấu ăn ngon nhất cho riêng mình, bà cũng khóa chặt cuộc sống cá nhân của mình.
"Có thật không?" Tôi hỏi khi Ruth kể xong.
Chị không trả lời.
"Ruth nói cho em biết đi. Có thật không?"
Ngày hôm sau tôi hỏi Ruth câu hỏi tương tự, nhưng một lần nữa không nhận được câu trả lời. Khuôn mặt của Ruth tái nhợt như bột mì.
"Có thật không?"
Tôi không từ bỏ câu hỏi. Tôi nhìn chị, mặt tôi tái nhợt như mặt chị.
Trong khung hai cửa sổ nhà bếp, nơi những mảng trời xanh thường xuất hiện, giờ là những đám mây đen cuồn cuộn. Từ góc bếp xuất hiện một con gián, mang theo tin xấu. Bông cải xanh, cà rốt, bắp cải, cà chua và đậu cove bắt đầu có mùi và thối. Những chiếc tủ lạnh kêu ù ù trong cô đơn. Nhà bếp yêu dấu của chúng tôi đã mệt mỏi và nhăn nhó, giống như một cô gái thất tình đã không tắm trong nhiều ngày.
"Có thật không, Ruth?"
Ruth tiếp tục rây bột và tôi cứ lặp đi lặp lại câu hỏi của mình cho đến khi Ruth trông già hơn, đầu chị ấy gần như phủ đầy tóc trắng, như thể chậu bột đã đổ trên đầu.

Tin đồn Mẹ là tình nhân của một quan chức chính phủ cấp cao, nhờ đó, bà đã được trao hợp đồng cho các dịch vụ thực phẩm. Tin đồn này bây giờ lơ lửng trong không khí nhà bếp, biến thành bồ hóng và than, đen và kinh tởm.

Những ngày mẹ khóc trong khi cắt hành tây và những ngày mẹ đập bột với sự tức giận cũng giống như những lúc Mẹ mệt mỏi vì phải mang những bí mật đó một mình. Bà đã kiệt sức vì phải chống lại những câu chuyện về cách làm thế nào để bà có được hợp đồng sau những vụ làm ăn với các quan chức chính phủ. Giống như trùng amip, những tin đồn lan rộng, nhanh hơn ánh sáng, nhân lên. (Nhưng ai mà không mê mẹ tôi? Bà là một người phụ nữ được ban phước với một vẻ đẹp tự nhiên không phai mờ theo tuổi tác; luôn tự chăm sóc thân mình và ăn mặc như Audrey Hepburn – bao giờ bà cũng diện loại váy mà ngôi sao điện ảnh này mặc trong phim Breakfast at Tiffany's.)

Nhà bếp của chúng tôi bước vào một thời kỳ chuyển tiếp. Khi những tin đồn ngày càng gay gắt, bầu không khí thay đổi như dầu trong chảo, sủi bọt và nóng. Vậy mà Ruth vẫn im lặng. Và cuối cùng, tôi đã chịu thua, không hỏi nữa và chọn làm theo Ruth bằng cách đập bột bánh mì hết sức mạnh.

Cuối cùng, khi đã ngừng khóc và ngừng gầm lên như một con sư tử bị thương, Mẹ mời Ruth và tôi đi một chuyến vòng quanh Java. Thật là bất ngờ, một liệu pháp cho cả ba chúng tôi, những người lâu nay đã phải chịu đựng những tin đồn và bực tức trong nhà bếp. 
Ruth vô cùng hạnh phúc, chị hét lên sung sướng trên máy bay khi chị chỉ về phía đường mờ của bờ biển Java: "Đúng như chị đã nói với em, Kalyla, hình dạng của hòn đảo giống như vệt nước tiểu của em khi còn bé!"

Đó là chuyến dã ngoại cuối cùng mà ba chúng tôi đi cùng nhau. Vài tháng sau, Ruth đột ngột qua đời vì một cơn đau tim. Mẹ và tôi hộ tống chị ấy trở về với gia đình ở Ambon. Ruth, người phụ nữ mạnh mẽ đã chăm sóc tôi không mệt mỏi, được chôn không xa bãi cát của bờ biển Ambon, một dãi mềm và trắng như bột mà chị yêu nhiều lắm.

Về phần mình, tôi đã dành nhiều thời gian cố gắng để đoán những bí mật của thứ bồ hóng đen và than bay lơ lửng trên đôi mắt của mẹ tôi. Tôi đã cố gắng tìm cách vào hang bí mật của mẹ. Sau khi Ruth mất, người phụ nữ xinh đẹp là mẹ tôi đã dành nhiều thời gian trò chuyện với những bông hoa mà bà đã trồng hơn là với mọi người.
Vào buổi sáng, trước khi những bông hoa nở hoàn toàn, tôi thường thấy Mẹ vuốt lá của cây thu hải đường và hoa cúc. Từ cửa sổ phòng mình, đôi khi tôi thấy những giọt nước mắt của mẹ tôi rơi trên những chiếc lá. Nước mắt của bà hòa cùng với những giọt sương mai.

Nhà bếp của chúng tôi rơi vào yên tĩnh. Cuối cùng, nó đã chết. Tất cả còn lại ở đó là tôi, mơ mộng bên chiếc bàn gỗ lớn giữa bếp, tung hứng những ký ức, cả cay đắng lẫn ngọt ngào. Bức tường nhà bếp dường như là một màn hình chiếu phim, trên đó xuất hiện "HẾT".

*

Bây giờ tôi cũng là một người cung cấp thực phẩm mà mọi người nói là đẹp như mẹ tôi. Điều khác biệt giữa chúng tôi là tôi dễ nỗi giận và không ngần ngại nhổ vào những biên nhận trống mà một số quan chức cấp thấp cố gắng trao cho tôi hoặc nguyền rủa một trợ lý cấp cao cố gắng dàn xếp ăn chia với cấp trên, và sẽ nổ tung khi một quan chức cố gắng định giá. Tôi không có nụ cười nào dành cho họ, không giống như mẹ tôi đã cười với họ cách đây nhiều năm.

L.Y.F.

*
Dịch từ bài “The Kitchen”, bản tiếng Anh của John H. McGlynn, đăng trên trang Words Without Borders - https://www.wordswithoutborders.org/article/the-kitchen.