Thứ Ba, 13 tháng 4, 2021
Thứ Ba, 30 tháng 3, 2021
Sưu tầm: Đọc lại bài thơ ngày xưa đã học trong sách Englsh for Today: STOPPING BY WOODS ON A SNOWY EVENING của Robert Frost
Bài sau đây chép từ trang web của báo Nghiên Cứu Quốc Tế
http://nghiencuuquocte.org/2021/03/07/
&
07/03/1923: “Stopping by Woods on a Snowy Evening” được xuất bản
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Nguồn: “Stopping by Woods on a Snowy Evening” is published, History.com
Vào ngày này năm 1923, New Republic đã cho xuất bản bài thơ Stopping by Woods on a Snowy Evening (Dừng Chân ven Rừng một Chiều Tuyết Xuống) của Robert Frost. Bắt đầu bằng dòng thơ nổi tiếng “Whose woods these are, I think I know. His house is in the village though” (Rừng trước mặt thuộc về ai ta biết. Nhà chủ nhân ở mãi tận trong làng), bài thơ này đã giúp hàng triệu học sinh Mỹ làm quen với thơ ca.
Giống như hầu hết các bài thơ của Frost, Stopping by Woods sử dụng giọng điệu của một nông dân New England giản dị – người đang chiêm ngưỡng một cảnh quan hàng ngày. Nhưng bản thân Robert Frost lại rất khác với những người kể chuyện mà ông đã tạo ra. Dù gắn bó lâu dài với New England và nông nghiệp, Frost thực ra đã chào đời ở California vào năm 1874 và tiếp tục sống ở đây cho đến khi cha ông, một nhà báo, qua đời khi ông lên 11 tuổi.
Mẹ đã đưa Frost đến sống tại Massachusetts, nơi ông tốt nghiệp với tư cách là đồng thủ khoa của trường trung học. Tiếp đến, ông theo học tại Đại học Dartmouth và Harvard nhưng đã không hoàn thành chương trình ở cả hai trường. Ba năm sau khi tốt nghiệp trung học, Frost kết hôn với người bạn gái cũng là đồng thủ khoa với mình, Elinor White.
Frost đã cố gắng gầy dựng một trang trại ở New England nhưng không thành công, và gia đình ông, chẳng mấy chốc đã có tận 4 người con, đã phải vật lộn với đói nghèo trong hai thập niên. Frost ngày càng chìm trong trầm cảm, thậm chí ông có lẽ đã có ý định tự tử. Năm 1912, ông đưa gia đình sang Anh để bắt đầu lại cuộc sống mới. Ở đó, ông tập trung sáng tác thơ và cho xuất bản tập thơ mang tên A Boy’s Will vào năm 1913 – tác phẩm nhanh chóng giành được nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình Anh và giúp ông giành được hợp đồng xuất bản tại Mỹ cho cuốn sách thứ hai của mình, North of Boston (1914).
Công chúng Mỹ rất yêu thích Frost, khi ấy đã 40 tuổi, người quay trở về Mỹ khi Thế chiến I nổ ra và mua một trang trại khác ở New Hampshire. Ông tiếp tục xuất bản sách, giảng dạy và thuyết trình tại các trường Amherst, Michigan, Harvard, và Dartmouth, ngoài ra còn đọc thơ của mình tại lễ nhậm chức của Tổng thống Kennedy. Bi kịch vẫn đeo bám cuộc đời ông khi cậu con trai tự tử và cô con gái mắc chứng tâm thần.
Dù Frost chưa từng tốt nghiệp đại học nhưng ông đã có đến 44 tấm bằng danh dự trước khi qua đời vào năm 1963.
&&&
*Bản dịch thơ của Đông Yên
(Nguồn: dinhsong.net)
STOPPING BY WOODS ON A SNOWY EVENING
(Dừng Chân Ven Rừng Một Chiều Tuyết Xuống)
Robert Frost
(Phần lớn nội dung bên dưới dựa vào một bài nghị luận văn chương bằng tiến Anh mà tôi đệ nạp khi theo học chương trình cử nhân tại Đại Học Cal State University of Long Beach. Bài luận văn nầy nhận điểm “A!”, trong khi hệ thống điểm Hoa Kỳ chĩ có "A", "A+" hoặc "A-" mà thôi.)
Bối cảnh bài thơ vẫn là New England, nhưng những chi tiết đưa ra không chĩ nhằm mục đích minh họa. Bối cảnh, nhân vật, và phối trí dàn dựng bài thơ chủ yếu là phương tiện truyền tải những tri giác của Robert Frost về cuộc đời. Trong “Stopping by Woods on a Snowy Evening”, nhà thơ hóa dạng các chi tiết vật lý thành một dạng trầm tư về sự căng thẳng nào đó mà con người thường cảm nhận giửa trách nhiệm cuộc sống và quyến rủ sâu thẳm của cái chết, giữa con vật và kẻ siêu nhân, giửa thiên nhiên hữu hình và nhản giới xa xăm trừu tượng siêu hình. Khi con ngựa giật nhẹ chuông cương, chúng ta được nhắc nhở rằng con người đang đối diện với một chủ đề phổ quát và mặt khác với một khoảnh khắc lặng yên của thiên nhiên hữu hình hữu hạn. Trong số những ưu tư hàng đầu trong thi ca của Frost phải kể đến sự mong manh của cuộc đời, những hậu quả trong việc chối bỏ hay chấp nhận những điều kiện của đời mình, những dục vọng khôn nguôi, những vấn nạn trong duy trì tình nghĩa vợ chồng, nỗi lo sợ cô đơn và hiu quạnh, những thay đổi tất yếu, những dằn vặt giửa xã hội và cá nhân, giửa truyền thống và thực tại. Đoạn kết của bài thơ cơ hồ như gợi lên hình ảnh của một lử hành bị định mệnh bắt mãi mãi đi về phía trước, một dạng “Homo Viator” của Gabriel Marcel, một triết gia đồng thời là nhà siêu hình học hàng đầu của Pháp. Những chiều không gian trong bài thơ chính là những hướng trình tâm linh của một tín đồ hành hương về nơi vô tận. Bài thơ như một tiếng gọi về một hoài vọng xa xăm mơ hồ, đối ngược với hiện tượng bình lặng và ổn định của những giá trị bình lặng và ổn định quen thuộc mà con người trông cậy vào đó để tồn tại.
** Thật khó tưởng tượng một bài bình nào ngắn gọn, bình dị, chặt chẽ, sâu sắc hơn thế! Tiếng Việt quả thật đã được tác giả sử dụng đạt đến mức vi diệu. Quý vị hãy thử đọc thêm lần nữa xem sao. Còn tôi đã đọc hàng chục lần rồi, lần nào cũng đều thấy hay y như lần đầu ! - TS Hoàng Anh Dũng
Stopping by Woods on a Snowy Evening
Robert Frost
Whose woods these are I think I know.
His house is in the village, though;
He will not see me stopping here
To watch his woods fill up with snow.
My little horse must think it queer
To stop without a farmhouse near
Between the woods and frozen lake
The darkest evening of the year.
He gives his harness bells a shake
To ask if there is some mistake.
The only other sound’s the sweep
Of easy wind and downy flake.
The woods are lovely, dark and deep,
But I have promises to keep,
And miles to go before I sleep,
And miles to go before I sleep.
DỪNG CHÂN VEN RỪNG MỘT CHIỀU TUYẾT XUỐNG
Người dịch: Đông Yên
Rừng trước mặt thuộc về ai ta biết.
Nhà chủ nhân ở mãi tận trong làng;
Ông đâu biết có ta đang dừng lại
Để nhìn rừng phủ kín tuyết đang rơi.
Con ngựa nhỏ cũng dường như tự hỏi
Sao lại dừng trong chiều vắng cuối năm
Khi phía trước không nhà không trang trại
Từ khu rừng đến hồ nước đóng băng.
Nó giật nhẹ chuông cương như muốn hỏi
Phải chăng đây là lầm lẫn nào chăng.
Lời hồi đáp là gió ngàn đang thổi
Là mênh mông tuyết phủ xuống bốn bề.
Rừng khả ái, âm u và thăm thẳm,
Nhưng ta còn những hứa hẹn phải đi,
Trước khi ngủ, một hành trình vô tận,
Một hành trình vô tận sẽ phải đi.
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2021/03/07/stopping-by-woods-on-a-snowy-evening-duoc-xuat-ban/
Thứ Năm, 31 tháng 12, 2020
MUỐI RUỐC SẢ ĐẬU PHỤNG, MÓN ĂN HAO CƠM CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ
Làm ruốc sả:
(Theo hướng dẫn của bạn Liên Hưng.)
1. Nguyên liệu chuẩn bị:
1 kg thịt nạc dăm xay qua 1 lần, đừng xay nhuyễn mất ngon.
1kg sả cây lấy phần ngon băm nhuyễn.
1/2kg hạt đậu phộng sống rửa sạch để ráo giã dập dập, đừng nhỏ quá, mất ngon.
200g ruốc Huế
2. Cách làm:
Ướp riêng thịt với tiêu hành nước mắm ngon (tùy ăn mặn hay lạt mà cho nước mắm vì ruốc cũng mặn.)
Ướp chung ruốc, sả, đậu phộng sống đã băm, giã dập. Nén lại cho thấm.
Chừng 6 giờ sau đem rang. Nếu rang không kịp thì để vào tủ lạnh.
Khi rang nhớ:
Xào thịt trước cho chín và khô nước, nếu nước còn thì chắt nước ra.
Sau đó trộn thịt đã chín vào hỗn hợp ruốc sả đậu. Trộn thật đều.
Nén chặt cho ngấm vào nhau khoảng 2 giờ mới đem rang.
Bắc chảo nóng cho chút dầu ăn tráng đều, sau đó cho hỗn hợp đã trộn vào, mỗi lần rang chừng 1 chén, nhiều quá muối sẽ không vàng đều và lâu khô.
Tay đão đũa liên tục, khi thấy hơi vàng vàng thì vặn lửa riu riu, cứ đão cho đến khi ruốc có màu cánh gián thơm lừng là đổ ra rang tiếp chão khác.
Mỏi chân thì ngồi ghế, mỏi tay thì chịu thôi.
Khi rang xong, phi một ít hành trộn đều.
Thế là xong, thơm lừng.
Ăn với cơm nóng, dẽo.
Để lửa nhỏ rang mới khô .
Sả lấy dao 2 lưỡi bào cho nhanh, không cần nhuyễn, vì khi rang nó sẽ teo lại.
Ruốc sả rang xong đạt yêu cầu là phài khô, ăn trúng đậu sẽ dòn.
Không cần lấy vỏ lụa của đậu phụng ra.
Hình từ Facebook của Thanh Chương LH.
Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2020
MỘT NGÔI CHÙA Ở CAMPUCHIA THỰC HIỆN LỐI SỐNG XANH BỀN VỮNG _ Nguyễn Khắc Phước
Nhưng một ngôi chùa ở tỉnh Prey Veng đang chuyển mình theo một
làn gió mới bằng cách trồng lương thực. Ngôi chùa này đã thu hút sự quan tâm của
người dân trên khắp Vương quốc vì nơi đó có một không gian xanh với nhiều loại
cây và rau được các nhà sư trồng và chăm sóc.
Tọa lạc tại làng Snay Proem của xã Senareach Udom ở huyện
Preah Sdech, cách Phnom Penh khoảng hai giờ đi bằng ô-tô trên Quốc lộ 1, chùa
Serei Sakor Daun Sdoeung được cho là là một trong những trung tâm Phật giáo tốt
nhất trong số 500 ngôi chùa ở tỉnh Prey Veng.
Được xây dựng lần đầu vào năm 1874, chùa gần như đã bị phá hủy
trong thời kỳ Khmer Đỏ. Sau khi chế độ tàn bạo sụp đổ, các nhà sư và dân làng bắt
đầu cùng nhau xây dựng lại từ đống đổ nát..
Các nhà sư đã trồng hơn 3.000 cây xung quanh chùa, trồng rau
và lúa để tự túc lương thực. Họ thực hiện lối sống thân thiện với môi trường và
nghiêm cấm sử dụng túi nhựa.
Lối sống bền vững được khởi xướng bởi nhà sư trụ trì của
chùa, Thầy Im Teang, người tin rằng cây có đời sống ngang bằng với con người.
“Chúng ta coi trọng mạng sống của mình, và chúng ta không
nên làm tổn thương mạng sống của người khác. Ngay cả cây cối cũng là những sinh
vật sống và chúng ta không nên làm hại cây cối hay thiên nhiên vì chúng cũng là
những sinh vật sống giống như chúng ta. Tôi yêu cây cối và thực vật,” nhà sư
nói.
Đức Phật Thích Ca đã thực hiện bài giảng đầu tiên của mình
và được giác ngộ dưới gốc cây. Phần lớn cuộc đời của Ngài gắn liền với rừng như
được miêu tả trong nhiều bức tranh đầy màu sắc trên tường và trần của chùa.
Tuy nhiên, chỉ một số nhà sư Phật giáo tham gia vào việc trồng
cây và rau. Ở một số vùng của Trung Quốc, Tây Tạng và Nhật Bản, các tu viện Đại
thừa thường tiến hành canh tác bằng cách trồng trọt hoặc chăn nuôi.
Giống như các quốc gia Đông Nam Á khác, các tu viện
Theravada ở Campuchia chủ yếu dựa vào sự quyên góp vì các nhà sư dành cả cuộc đời
của mình để tu học.
Các nhà sư Theravada vẫn thực hành theo cách truyền thống là
đi khắp nơi thu vật phẩm cúng dường, nhưng đại dịch Covid-19 đang hoành hành đã
tạo ra một thách thức đối với thực hành này, vì những các Phật tử được yêu cầu ở
nhà và một số gặp khó khăn về tài chính.
Việc làm nông nghiệp tại chùa Serei Sakor Daun Sdoeung được
coi là một ví dụ điển hình về một phương pháp tự chủ và bền vững.
Thầy Teang cho biết các nhà sư ở chùa của ông đã làm nông và
trồng cây được khoảng 10 năm nay, chủ yếu vì lý do sức khỏe, kinh tế và môi trường.
“Tôi coi trọng sức khỏe tinh thần và thể chất và tôi tin rằng
trồng cây ăn trái và rau màu có thể đóng góp cho cả hai khía cạnh của cuộc sống.
Trồng rau hữu cơ giúp các nhà sư và dân làng gần đó tăng cường sức khỏe nhờ họ
vận động thân thể và đổ mồ hôi khi làm việc trên đất chùa.
“Ngoài ra, nhà chùa không phải bỏ tiền ra mua rau và những
thực phẩm có hại cho sức khỏe.
“Một số loại trái cây và rau quả được coi là không tốt cho sức
khỏe do bị phun hóa chất và các phương pháp sản xuất nông nghiệp phi đạo đức
khác. Khi tiêu thụ những thứ như vậy, chúng ta sẽ đối mặt với nguy cơ mắc bệnh
cao hơn và cuối cùng phải chi nhiều tiền cho việc chăm sóc sức khỏe,” Thầy
Teang nói.
Vườn rau của chùa chỉ có diên tích 50m x 10m. Nhưng trong
không gian đó, có rất nhiều loại trái cây và rau quả bao gồm xà lách, rau muống,
rau bina, cải xoăn, cà tím, cà chua, ngô, sả, bí đỏ, dừa thơm, hoa súng, chuối,
mít, xoài, táo hồng. và đu đủ.
Chúng được trồng bằng cách chỉ sử dụng phân bón tự nhiên.
“Tôi cho rằng trồng rau hữu cơ không khó. Kỹ thuật quay trở lại thời kỳ đầu của
tổ tiên chúng ta.
“Trồng và ăn những gì bạn trồng sẽ tốt cho sức khỏe. Khi có
sức khỏe, bạn mới có thể học tập và làm việc hiệu quả. Không phải vô cớ mà người
ta nói: Bạn chính là những thứ mà bạn đã ăn," Thầy Teang nói.
Những ai có nhu cầu học cách trồng rau hữu cơ có thể ghé qua
chùa. Các nhà sư sẵn sàng chia sẻ kiến thức về canh tác hữu cơ.
Lối sống lành mạnh này cũng đã truyền cảm hứng cho người dân
trong làng trồng thực phẩm hữu cơ. Họ học được kỹ thuật canh tác từ các sư thầy
ở chùa và trồng trọt để nuôi sống gia đình, thậm chí tạo thêm thu nhập.
Để giúp dân làng trồng lương thực, chùa đã chia sẻ một số
cây lúa giống với người dân khi mùa mưa bắt đầu. Thầy Teang nói: “Chúng tôi
cũng chuẩn bị hạt giống rau cho những người cần chúng.”
Vào mùa thu hoạch, các sư thầy thay nhau ra đồng gặt lúa. Và
khi khó khăn, chùa Serei Sakor Daun Sdoeung cũng giúp dân làng đỡ bằng cách
chia sẻ gạo và rau của mình như là vật phẩm cứu trợ..
Thầy Teang nói: “Chúng tôi có nhiều rau và trái cây hơn nhu
cầu tiêu thụ hàng ngày. Ưu tiên của chúng tôi là dành chúng cho dân làng gần
đó. Người ở xa đến cũng có thể lấy nếu chúng tôi còn dự trữ ”
Bên cạnh việc trồng thực phẩm, thậm chí có những vườn hoa mà
Thầy Teang cho biếtchúng được xem như là chất xua đuổi côn trùng để ngăn sâu bệnh
phá hoại mùa màng của họ. Các cây dại cũng được trồng và có biển ghi tên loài
cây để người dân, đặc biệt là trẻ em tìm hiểu về các loại cây rừng.
“Nếu phải chặt bỏ một cây thì nên trồng lại hai cây. Cây cối
cung cấp một tán xanh cho trái đất và các sinh vật khác. Chúng bảo vệ trái đất
khỏi sự nóng lên toàn cầu, ” sư trụ trì
nói và cho biết thêm rằng chùa được mệnh danh là ngôi chùa Phật giáo xanh nhất ở
Campuchia.
Mặc dù trang Facebook của chùa có 11.000 người theo dõi, sư
trụ trì cảm thấy nhẹ nhõm vì chùa không đông đúc trong dịp Tết của người Khmer.
Một thông báo trên Facebook của chùa cho biết: “Quý vị có thể
đến chùa để cầu nguyện và cúng dường thức ăn cho các nhà sư như một việc làm tốt
bất cứ lúc nào.
“Nhưng điều quan trọng nhất là quý trọng sức khỏe của quý vị.
Chúng tôi không thất vọng khi thấy ít người đến hơn. Thay vào đó, chúng tôi rất
vui vì ngày càng có nhiều Phật tử quyết định ở nhà, giữ gìn vệ sinh và thực
hành giản cách xã hội. Chúc quý vị trường thọ và làm nhiều việc thiện hơn.
"Nguyện cầu tất cả đau khổ, bệnh tật và sợ hãi biến mất khỏi thế giới."
Nguyễn Khắc Phước thuật lại từ bài
Pagoda shows the way to sustainable green living
của tác giả Pann Rethea đăng trên Phnom Penh Post ngày 19/4/
2020.
Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020
BÌNH MINH ĐANG LÊN _ Truyện ngắn của Khain Swe Oo - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước
Khin Swe Oo (1933
-2019)
Khin Swe Oo (1933 - 2019)
Khin Swe Oo là con gái của Maha Swe, một nhà văn dưới thời
thuộc địa Anh.
Bà lấy chồng năm 1953 rồi ly hôn sau khi sinh con gái Parela
Swe.
Bà đã viết 30 bài báo, hơn 50 truyện dài và hơn 200 truyện
ngắn. Những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của bà viết về các cuộc đấu tranh
yêu nước của nam nữ thanh niên Myanmar chống chế độ thuộc địa. Bà cũng tích cực
trong các hoạt động yêu nước. Truyện ngắn của bà viết về các vấn đề xã hội, các
mối quan hệ và về sự chính trực khi đối mặt với nghịch cảnh.
Bà tốt nghiệp Cử nhân Nghệ thuật tạo Đại học Mandalay năm
1956.
Bà bắt đầu viết chơ tờ Thandaw Sint Journal từ 1946. Năm
1961, ở tuổi 28, bà xuất bản lần đầu cuốn tiểu thuyết Doe Tine Htar Ni (Dân tộc
chúng ta) và nhờ nó mà bà trở nên nổi tiếng.
Năm 1963, bà nhận được Giải thưởng Tuyển tập Truyện ngắn
dành cho cuốn Nyeinchan Par Say. Nhật ký Sagaing Thamee là cuốn tiểu thuyết cuối
cùng của bà được phát hành vào năm 2003. Bà giành được giải thưởng Thành tựu Trọn
đời, một Giải thưởng Văn học Quốc gia Myanmar vào năm 2012.
BÌNH MINH ĐANG LÊN
1
Những bông sen hồng xinh tươi đang tưng bừng nở trên làn nước
mát. Cái ao đầy ắp hoa sen và nhiều loại
hoa nhỏ khác. Những con nhái chễm chệ trên những chiếc lá xanh đu đưa trong
gió. Ma Ein muốn giữ cho mình vẻ điềm tĩnh và nói với Ko Toh.
“Đêm qua họ phải lấy nước từ ao này, anh biết không?”
“Thồi đừng nói chuyện ấy nữa,” Ko Toh nói. “Điều cần bàn bây
giờ là làm sao mình báo cho khách mời đây? Mình phải đợi đến khi họ đến…” anh tỏ
vẻ bực tức, không nói nữa.
“Vâng, em nghĩ Bố, Mẹ và Dì sẽ đợi họ đầu đường… nhưng phải
đợi một giờ rưởi hoặc hơn nữa. Kotoh à, anh nên ra đó với họ. Nhưng em nghĩ có
người sẽ không đến nếu họ đọc báo sáng nay.”
“Tại sao chuyện này lại xảy ra hôm nay? Ước gì nó xảy ra trễ
hai, ba ngày nữa…”
“Năm, sáu ngày nữa thì tốt hơn, đồng ý không?”
Không hiểu sao Ma Ein lại muốn cười. Sáng nay cô cười một
mình khi nghĩ về chuyện này, chuyện kia. Điều ấy đã khiến bà dì chưa chồng có
đôi mắt hoang dại và dễ khóc hết sức bực mình.
“Trong hoàn cảnh như thế này mà con cười được hả?” bà mắng
cháu.
“Vậy thì con nên khóc à? Con chẳng thích khóc tí nào vì
không làm gì được nữa,” Ma Ein cãi lại. Lời của cô dội vào con tim trống rổng của
mình. Chẳng làm gì được nữa, chẳng làm gì được nữa. Đó là sự thật, mà nếu không
thì cũng chẳng làm gì được nữa.
Đêm hôm trước, nhà của Ma Ein, nhà của cô dâu dự định tổ chức
đám cưới sáng nay, đã bị cháy rụi. Đó là đêm kinh hoàng khi cả thế giới dường
như sụp đổ: lửa cháy dữ dội, những tia lửa đỏ rực bay lên, những đám khói đen
cuồn cuộn, những thùng nhiên liệu nổ, người lớn la hét, trẻ con gào thét.
2
Tai họa mà Ma Ein và chú rể
Ko Toh phải chịu đựng giống như cây đèn cầy trong đám cháy rừng.
Kotoh đã chạy từ nhà anh trên phố ngay khi vừa được tin.
Dưới vầng trán rộng đẫm mồ hôi, đôi mắt thông minh của anh
phủ màn lo lắng. Vào lúc anh đến, lửa đã hạ đôi chút, để lộ ngôi nhà của Ma Ein
chỉ còn những cái cột đen: xấu xí, què quặt, trơ vơ.
“Người ta nói chủ tiệm tạp hóa dùng đèn cầy khi đóng cửa,”
Ma Ein giải thích. “Và tiệm của ông thì chứa toàn đồ dễ cháy! Hộp diêm, đèn cầy…”
Hai phần ba khu dân cư đã biến thành khói. Ngọn lửa bùng
phát vào lúc 6:30 tối và được dập tắt hoàn toàn 35 phút sau đó. Trong thời gian
đó, nhà ở, cửa hàng, cây cối đã bị ngọn
lửa thiêu rụi. Giống như đang xem một vụ nổ nguyên tử trên truyền hình, Ma Ein
nghĩ vậy. Ko Toh buồn rầu nói:
“Cải tủ chén bát và cái giường mới, thế là xong!”
Ma Ein đáp ngay, “Chớ còn gì nữa.”
Có lý do khiến cô không còn đau khổ vì mất mát. Ko Toh lại
thở dài, lần này nhẹ hơn. Cái gường cưới và cái tủ chén là quà tặng của bố mẹ
cô. Những đồ vật không có sự sống đó cũng đã qua đời, chứ sao nữa, Ma Ein suy
nghĩ.
“Anh sẽ mua cái mới,” Ko Toh nói.
“Không cần đâu, thật đó anh,” Ma Ein nói. “Gia đình em sẽ
xoay xở.”
“Ba mẹ em có nói gì về đám cưới không?” anh hỏi.
“Chẳng nói gì nhiều. Chẳng ai biết phải làm gì.”
“Ôi, mẹ ơi! Mọi thứ đều bị đảo lộn.”
Giọng sắc bén của Ko Toh biểu lộ sự bực tức. Ma Ein thấy bố
mẹ của cô đang cầm cái cây khều vào đống tro tàn của ngôi nhà, cách chỗ cô đang
đứng với Ko Toh không xa. Một số người thuộc lực lượng an ninh và chính quyền
đang đi quanh đám cháy, trong tay họ là những kẹp giấy và những ngòi bút đã bật
nắp.
“Đừng lo lắng gì về đám cưới,” Ma Ein nói. “Bố không phải là
chủ tiệm vàng giàu có, mà chỉ là một người thợ mộc, tài sản của ông chỉ có mấy
tấm gổ.”
“Ba mẹ có buồn không?” Ko Toh hỏi.
“”Hứ?”
Mặc dù cô nghe rõ nhưng còn bối rối chưa trả lời liền được
“Ồ, nhiều người cũng chịu tai họa như mình thôi, anh biết đó,”
cuối cùng cô trả lời. Cô nghe Kotoh thở dài lần thứ ba. Ko Toh, với vẻ đàn ông
và đẹp trai, có vẻ nặng lòng với gia đình cô. Cô muốn làm vơi bớt gánh nặng ấy.
Từ lúc nửa đêm đến giờ, Ma Ein cố gắng giữ bình tỉnh và
thanh thản. Trong khi mẹ cô chuẩn bị cúng đền bữa sáng, lần này chỉ kiếm được mấy
trái ổi, Ma Ein đã đi xuống bờ ao. Những chiếc lá cháy dỡ và đống rác đang âm ỉ
làm cô bực mình nhưng đầu cô nhẹ hơn đêm qua. Cái ao bị đám lửa bao quanh hôm
qua bây giờ trở thành chỗ trú nhỏ với mặt nước phủ sen mát mẻ và xanh tươi. Làn
gió nhẹ nhàng lướt trên mặt ao. Cây muồng già với những chiêc hoa màu tím mong
manh nghiêng mình trên mặt nước. Ánh nắng len qua những tán cây rợp bóng mát
bên bờ đối diện. Cô nhớ lại vẻ mặt của Ko Toh đêm qua khi cuối cùng anh vâng lời
bố mẹ cô để về nhà nghỉ. Cô hy vọng vẻ u ám đó sẽ tan dưới ánh bình minh khi
anh trở lại sáng nay, mặt anh sẽ nhẹ nhàng như nắng sớm.
3
Bố mẹ cô cuối cùng quyết định dời lại đám cưới vào ba tuần
sau nhưng Ko Toh muốn ít nhất là một tháng để sắm lại đồ dùng cho cô dâu và chuẩn
bị cho đám cưới được tốt đẹp. “Đó là vì con nghĩ đến Ma Ein,” anh nói.
“Thực ra, không cần đâu,” Ma Ein phản đối. “Ko Toh à, gia
đình em có thể xoay xở.”
Vẻ bực mình thoáng hiện trên mặt Ko Toh. Ma Ein cười và giả
vờ không chú ý. Cô tiếp tục lặp lại trong trí câu “Không làm gì được nữa” như
là một mật chú. Có nhiều người khác còn tệ hơn cô nhiều và rốt cục thì biết làm
gì đây? Cô cũng đánh giá cao những lo lắng của Ko Toh về việc tổ chức đám cưới
sao cho tốt.
“Em chỉ là mớ rau héo cần vứt đi,” anh giận dữ cần nhằn với
cô. “Sao em cứ nói những điều ngu xuẩn đó với bố mẹ, những người đang lo cho
em.”
“Em chỉ nói sự thật là không cần nhiều lắm, sao lại ngu xuẩn
được?” cô nói to.
“Em không bao giờ biết điều mình nói sẽ dẫn đấn cái gì,” anh
trả miếng.
Lúc này, không chỉ giọng nói mà nét mặt của anh cũng nhuốm
màu giận dữ. Ma Ein vẫn cười nhưng cô không chịu thua.
“Anh biết rằng em không bao giờ muốn lo lắng hay sợ hãi chuyện
gì. Vậy nên, nếu chúng ta có một… hai…
hoặc ba vấn đề, chúng ta phải đối mặt với nó. Nếu chúng ta có nhà, thì tốt. Nhà
cửa, bình lọ, giường, tủ, đồng hồ, nếu có thì tốt, nếu không thì sao? Nếu có
thì dùng, nếu không có thì không dùng. Em đọc hôm kia, trên tạp chí nghệ thuật,
một biên đạo múa nói: “Tôi không ước ao mình có đủ mọi thứ. Nếu cần, tôi có thể
mượn giày để mang!” Ông ấy nói đúng nếu anh nghĩ về vụ hỏa hoạn này!”
“Thôi, đủ rồi!” Kotoh gầm lên. Đó là lần đầu họ cãi nhau và
không phân định thắng thua. Mẹ cô, đang thêm củi vào dưới ấm nước đang sôi, gọi
cô, “Này con gái, đừng nói bậy bạ như thế.” Bố cô đang lặng lẽ phì phà khói thuốc,
mắt nhìn vào khoảng không. Sau khi Ko Tọ đi mua đồ ăn trưa, bố cô nói với mẹ cô
khi cô đang cố kéo mấy cây cột đã cháy thành than.
“Con bé nói đúng đó, bà biết đấy. Khi tai họa ập xuống, người
ta phải đối mặt với nó. Nếu không có gường thì nằm trên nền nhà. Không có bát
thì dùng lá chuối. Không có tủ thì bỏ đồ vào giỏ. Tôi không lạc quan tếu đâu,
Ma Htar Yin. Mọi thứ đều tùy vào sức mạnh của tâm trí chúng ta, cái đó là quan
trọng nhất. Mới đi bộ chừng năm trăm mét mà có người đã kiệt sức, chỉ giặt mấy
cái đồ mà đã than van, bị tàn lửa bay làm thủng áo tí xíu mà đã khóc lóc.”
Mẹ chỉ bình luận: “Chuyện đó thì tôi không có ý kiến, nhưng
Ma Ein này, đừng cãi cọ nhiều với thằng Ko Toh. Ý của nó tốt đấy. Cho dù con
không đồng ý, cũng nên giữ mồm giữ miệng, con hiểu chứ?”
“Dạ, con hiểu,” Ma Ein nói.
4
Po Htoo đến chơi khi Ma Ein đang nhìn Ko Toh vô ý vấp chân vào cái cột nhà cháy. Anh này
cùng tuổi hai mươi với Ma Ein và họ là bạn bè từ hồi còn bé.
“Hôm qua dinh thự bằng vàng, hôm nay là một đống than, hỡi
trời!” Po Htoo nói đùa và làm bộ đang
khóc.
Ko Toh nói với anh: “Này, nghe nói sách gióa khoa của bạn
cháy hết rồi.”
“Đúng vậy.”
“Thế thì thi cử sắp tới thế nào?”
“He he, chỉ là trò chơi thôi.”
“Tầm bậy, nào. Bạn định bỏ thi, hả? Bạn đã luyện thi kỹ lắm
mà…”
“Vâng, mình sẽ thi chứ.”
“Vậy thì tốt. Đừng có giỡn nữa.”
“Vậy mình phải khóc sao? Nếu mình khóc, sách mình cũng đã
cháy rồi. Như bạn Cho Yi, bạn ấy cứ gào khóc miết.” Quay sang Ma Ein, Po Too
nói: “Ma Ein, sao chưa đi an ủi bạn mình?”
“Tội nghiệp Cho Yi,” Ma Ein nói. “Nó học chăm lắm.”
“Chà chà, chẳng biết việc gì mà làm đây!” Po Htoo tuyên bố.
Ma Ein buồn cười. Po Htoo cũng đang niệm thần chú của cô đấy!
Trong chốc lát, Po Htoo đã nhổ tất cả các cột nhà cháy lên.
Anh không ở lại ăn trưa mặc dù mọi người nài nỉ, anh nói đã ăn no rồi.
“Buổi tiệc trước đám cưới, hả?” Anh chọc họ. “Bữa tiệc sang
bên đống tro tàn… dù ưng nhưng không dám vào bàn…” anh hát.
Ma Ein cười với anh ấy nhưng bắt gặp vẻ khó chịu của Ko Toh
nên tắt giữa chừng. Thế giới này không thể chỉ tràn ngập toàn khổ đau nhưng
cũng không thể ngăn cản bằng chỉ trích.
5
Cha cô và Ko Toh đã chọn ngày đám cưới: đúng y một tháng và
một tuần từ hôm nay. Lần này, Ko Toh cương quyết sẽ mua chiếc giường cưới và tủ
chén. Ma Ein không hiểu tại sao hai thứ này lại quá quan trọng trong lễ cưới
như vậy. Khi cô dại dột cắt ngang câu chuyện của những người trong nhà bằng nhận
xét ‘nếu chúng bị cháy nữa thì sao’ khiến Ko Toh nổi giận và mẹ cô tát vào lung
cô.
Bà Dì can đảm ủng hộ cô, tuyên bố rằng mọi người nên đối xử
nhẹ nhàng với cô, “Mọi thứ đều vô thường, phải vậy không? Có đúng không nếu cứ
bám vào vật chất? Có phải đức Phật dạy vậy không?”
Kế đó, Po Htoo chọc cười bằng cách bắt chước một nữ hoàng bị
mất cắp dây chuyền vàng. Thế giới này giống như một nhà ảo thuật: bắt người ta
khóc rồi cười liền sau đó.
Anh trai của Po Htoo đã cố gắng cứu Ni Tut, một cậu bé 12 tuổi
ra khỏi lửa nhưng không kịp. Khi anh đến báo tin, một vạt da trên ngực của anh
bị cháy đỏ khiến Ma Ein không dám nhìn. Lần đầu tiên cô thấy Mẹ khóc vì sau khi
em bé mới sinh của bà bị mất, bà đã cho Ni Tut bú sữa của mình. Thấy mẹ khóc,
Ma Ein đi về phía ao và cũng bắt đầu khóc.
“Em đi đâu vậy?” Ko Toh gọi. Cô không trả lời; để cho anh ta
nghĩ cô không thèm nói nữa nếu anh ta muốn.
Ngay bây giờ cô không có giường cưới, không tủ chén, áo cưới
cũng không. Ngay cả cô không muốn lấy Ko Toh nữa. Thế gian này, thế gian tàn bạo
này giống như một kẻ bất nhân đang đẩy người ta vào lò thiêu, và Ko Toh có vẻ
như đang hợp tác chia phần. Cô muốn đẩy anh ta xuống hồ. Nếu cô nói cho anh biết,
chắc anh sẽ nổi khùng ghê lắm! Ý nghĩ đó làm cô muốn cười lần nữa.
Ngay lúc ấy một con nhái nhảy từ một lá sen này qua lá sen
khác khiến hoa sen lắc lư. Một giọt nước từ cánh hoa rơi xuống. Giọt nước này,
cho dù đó là giọt nước mắt của hoa cũng không ngăn được hoa sẽ nở khỏe, cái cuống
của nó giống như chiếc cổ mảnh khảnh vươn thẳng lên. Ma Ein duổi thẳng lưng, ngẩng
cằm và vươn cổ giống như sen. Khi cô quay mặt về phía nhà, mắt cô đã ráo lệ.
Khin Swe Oo
Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2020
NHÀ BẾP - Truyện ngắn của Lily Yulianti Farid (Indonesia) - Nguyễn Khắc Phước dịch.
Ruth vô cùng hạnh phúc, chị hét lên sung sướng trên máy bay khi chị chỉ về phía đường mờ của bờ biển Java: "Đúng như chị đã nói với em, Kalyla, hình dạng của hòn đảo giống như vệt nước tiểu của em khi còn bé!"
*










