Trịnh Y Thư sinh năm 1952, tại Hà Nội. Tác phẩm đã xuất bản:
‘Đời nhẹ khôn kham’ (The Unbearable Lightness of Being), tiểu thuyết của nhà
văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera, tạp chí Văn Học xuất bản, 2002; ‘Căn phòng
riêng’ (A Room of One’s Own), lý luận văn học của nhà văn nữ Virginia Woolf,
Tri Thức xuất bản, 2009. ‘Người đàn bà khác’, tập truyện, Thế Giới xuất bản,
2010. Tác phẩm gần đây nhất của Trịnh Y Thư là ‘Chỉ Là Đồ Chơi’- tạp bút, Hợp
Lưu xuất bản. Ngoài ra, Trịnh Y Thư còn là nhà thơ và cầm thủ guitar xuất sắc.
Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015
Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015
NHÀ THỜ HỌ Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước
NHÀ THỜ HỌ
Truyện ngắn của Nguyễn Khắc
Phước
Bên kia đầm Thủy Tú, nhìn từ quốc lộ, là
một dãi xanh mờ gồm những làng chài nối tiếp nhau. Ngày xưa, dân chài ở đây nghèo
lắm. Họ đánh cá bằng ghe nhỏ, thúng, và kéo lưới ven bờ. Nhà họ là những mái
tôn tạm bợ, dễ dàng dựng lại sau cơn bão. Trong chiến tranh, người đi lính bên
này, kẻ bên kia, riêng thanh niên Trần Mẹo may mắn bị người ta chê vì đôi mắt
lé. Phụ nữ cũng chê lão lé và nghèo, chỉ đánh cá bằng cách kéo lưới ven bờ,
không có lấy một cái thúng, nên mãi đến quá nửa đời, sau chiến tranh, lão mới
lấy được vợ, một phụ nữ có chồng chết trận.
Những năm hòa bình mới lập lại cả nước, nhưng
làng này lại chẳng được yên. Dân thành phố đổ về đây thuê thuyền đi vượt biển.
Những chủ ghe, lúc đầu còn lưỡng lự, nhưng sau thấy được trả bằng vàng nhiều
quá bèn liều mạng chở họ ra biển. Trước khi đi, các chủ ghe đã bí mật tìm chỗ
chôn vàng và không quên dắt theo bà con để được vượt biên mà không mất tiền. Những
chủ ghe nghèo trở nên giàu có, và những gia đình khác có người thân ở nước
ngoài gởi tiền về cũng dần dà trở nên khá giả. Họ bắt đàu xây mộ, xây nhà. Khu
nghĩa trang của những làng này được người ta ví là những “thành phố ma” bởi vì
có quá nhiều lăng mộ cao lớn, rộng rãi, đủ kiểu dáng và màu sắc.
Tất cả đều đã đổi khác, giàu hơn, to hơn,
đẹp hơn. Riêng lão Mẹo thì không.
-Lâm
ơi, Lâm à. Dậy coi giấy mời có phải bữa ni họ Lê khánh thành nhà thờ không con?
Mới bốn giờ sáng mà lão Mẹo đã dậy, pha
xong ấm trà, thấy giấy mời trên bàn nước, bèn í ới kêu thằng cháu đích tôn.
Thằng cháu nội nói vọng từ giường của nó: - Đúng
đó, ông nội. Chín giờ sáng. Ông nội đi một chắc không được mô. Để con đi theo,
chắc chắn cũng được mời vô làm một bụng.
Vốn là một ngư dân nên đã gần chin mươi
mà lão còn khỏe. Trước đây, mỗi bữa lão ăn hai chén đầy, sáng còn ra biển tắm
một mình. Thế nhưng đúng cái ngày mở móng nhà thờ họ Lê, sức khỏe lão bắt đầu
suy sụp.
Là trưởng họ, nghĩ đến cái nhà thờ họ của
mình chỉ là cái nhà cấp bốn rộng đủ bỏ một cái ban thờ, lão nóng ruột.
Thực ra ba, bốn chục năm nay, lão thường
xuyên đau đáu về chuyện xây nhà thờ họ. Thấy người ta xây mộ, xây lăng, làm nhà
thờ tộc họ mà lão khổ tâm bởi giòng họ lão chẳng có ai làm quan chức, giàu có hay
Việt kiều.
Nói không ai trong tộc họ là Việt kiều
thì không đúng lắm. Có một người hiện đang ở Mỹ là Thảo, con gái của chú em
cùng chi với lão, gọi lão bằng bác thúc bá,
nghĩa là cha của hắn với lão cũng một ông cố.
Thời chiến tranh, lúc đó Thảo chưa tới
hai mươi, bỏ làng lên thành phố. Người làng đồn rằng hắn làm nghề trên đò, nói
nôm na là làm đĩ. Cái tin đó làm lão hỗ thẹn với bà con làng. Rồi nghe nói hắn được
một anh thông dịch viên đưa vào làm ở cửa hàng PX của Mỹ. Ở đây, hắn quen với
một phi công trực thăng của quân đội Mỹ và trở thành vợ chồng. Hết hạn quân
dịch, anh lính Mỹ này đưa hắn về Mỹ. Rồi hắn ly dị với anh chồng người Mỹ và
lấy một anh phi công ngưỡi Mỹ gốc Việt.
Lão không gặp lại Thảo kể từ ngày hắn rời
làng. Mọi người trong làng chẳng ai nhắc đến Thảo, và lão cũng quên hắn luôn.
Quên luôn đến hơn ba chục năm. Rồi ba năm trước, bỗng nhiên hắn gởi tiền về xây
mộ cho cha mạ hắn thật to. Điều khiến lão bực mình là mộ cha mạ hắn sát bên mộ
ông cố, hiện vẫn chỉ là cái nấm bằng xi-măng sơ sài. Ngày gia đình Thảo tạ mộ
có mời lão nhưng lão sai thằng con đi thay. Lão nói tau không không dự cúng giỗ
tiệc tùng bằng đồng tiền nhơ nhớp. Thằng con nói cha ở làng cả đời, không đi
lính và không hề lên thành phố thời đó thì biết chi mà nói. Chưa khi mô con
nghe mấy ông lính nói xấu gái làm tiền. Họ là chỗ dựa của nhau về vật chất lẫn
tình cảm. Lão huơ gậy nói mi biết chi mà bép xép lỗ mỏ. Có con chị như rứa mà
không biết nhục à? Mi định bênh cho chồng trước của mạ mi hay răng?
Không biết gia đình con Thảo có nói chi
với hắn không mà gần đây nghe nói hắn định gởi tiền về xây nhà thờ họ, nhưng
lão đánh tiếng từ chối.
Chuyện con Thảo xây mộ cho cha mẹ hắn chưa
quên, thì cách đây bốn tháng, nhà thờ họ
Lê nằm bên cạnh nhờ thợ họ Trần của lão bắt đầu khởi công xây mới.
Tài trợ chính không phải là
Việt kiều mà là Lê Tư, một đại gia trong họ. Lão không biết anh ta làm gì mà đi
xe sang trọng cùng đoàn tùy tùng về đo đạc, thiết kế và mời nhà thầu và thợ từ
thành phố về làm. Thằng con lão nói anh ấy khởi nghiệp bằng nghề buôn gỗ, lập
nhà máy xẻ gổ, và bây giờ là phó giám đốc một ngân hàng. Đất đai, khách sạn,
chung cư của anh tỉnh nào cũng có.
Từ ngày nhà thờ họ Lê khởi công, lão
không ra biển tắm nữa. Không muốn gặp ai. Lão kêu đắng họng và cơm chỉ mỗi bữa
một chén. Đêm thưởng thức khuya và húng hắng ho. Đi quanh sân phải chống gậy.
Lão buồn bực vô cùng mà không biết nói
với ai. Nói ra sợ con cháu nói mình ghen tuông với họ Lê. Thế nhưng lão cứ dày
vò vì nghĩ mình gần đất xa trời mà không xây được cái nhà thờ họ cho khang
trang để nở mày nở mặt với người làng, và khi xuống âm ty không bị tổ tiên la
mắng.
-
Chín giờ rồi ông nội ơi! Thằng cháu nhắc.
Từ khi nhận được thiệp mời, lão không
biết có nên đi hay không. Đi thì không biết khi nào mình xây được nhà thờ mới
để mời lại. Không đi thì người ta trách, bởi không chỉ vì lão là trưởng họ Trần
mà vì người làng đều là bà con ba bên bốn bề, không có mặt là không phải đạo.
- Mi lấy cái xách có để sẵn áo dài, khăn
đóng rồi dìu ông đi. Tới đó tau mới mặc, chớ mặc trước ở nhà, ra đường nóng
lắm.
Hai ông cháu đi chững mười phút là đến
nhà thợ họ Lê. Nhà tài trợ Lê Tư và các lão ông họ Lê đứng hai hàng ở cổng đón
chào khách.
Khi buổi tiệc vừa mới bắt đầu thì một xe
ô tô của công an đổ trước cổng. Ba ông công an đi vào và một người đọc lệnh bắt
và tạm giam Lê Tư vì tội trốn thuế và nhiều tội kinh tế khác. Họ còng tay Lê Tư
và dẫn ra xe.
Lão Mẹo đến vỗ vai thằng cháu đang ăn,
nói nhỏ:
-
Con cứ ngồi ăn, ông về trước.
-
Nhưng ông đi không vững, để con dìu ông về.
-
Không cần. Ông về một chắc cũng được.
-
Nhưng ông về chi sớm rứa?
-
Ông về nói gia đình con Thảo nhắn hắn gởi tiền về xây nhà thờ họ.
-
Nhưng ông chê tiền o ấy nhớp mà?
-
Nhớp nhưng sòng phẳng, không ăn cắp của ai.
Lão
Mẹo cởi áo dài, một mình len qua đám người nháo nhác trên sân và nhanh nhẹn
bước ra cổng. Lão không cần đến cái gậy nữa.
NKP
Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015
NHẤT LINH - VIẾT VÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT
Mời các bạn bấm vào liên kết sau để đọc:
NHẤT LINH - VIẾT VÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT
10 KINH NGHIỆM CHO NGƯỜI MUỐN VIẾT TRUYỆN TÌNH
10 KINH NGHIỆM CHO NGƯỜI MUỐN VIẾT TRUYỆN TÌNH
Nguồn: Blog Minh Moon
(minhmooon.wordpress.com)
Cảnh báo: Bài viết
của cá nhân Minh Moon, mang tính chia sẻ, không mang tính học thuật nên không
tránh khỏi các ý kiến có tính phiến diện, một chiều. Vui lòng tôn trọng người
viết.
Mọi ý kiến đóng góp, bổ sung, bình luận đều được hoan nghênh. (Minh Moon)
HỌ ĐÃ VIẾT TRUYỆN NGẮN NHƯ THẾ NÀO? (và nhiều bài khác)
HỌ ĐÃ VIẾT TRUYỆN NGẮN NHƯ THẾ NÀO?
Tạp chí Tuổi Ngọc phỏng vấn
nhà văn Võ Hồng
Nguồn: VietSciences
Ông đã viết truyện ngắn như thế nào ?
Câu hỏi có thể
hiểu theo hai cách :
a) Vào trường hợp
nào ông viết truyện ngắn ?
b) Hãy nói phương
pháp viết truyện ngắn của ông.
Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014
CẢM NHẬN VỀ TÌNH YÊU QUA CA KHÚC "TÌNH KHÚC ĐÊM XUÂN"CỦA CAO HỮU ĐIỀN
CẢM
NHẬN
VỀ
TÌNH
YÊU
QUA
CA
KHÚC "TÌNH
KHÚC
ĐÊM
XUÂN"
CỦA
CAO
HỮU
ĐIỀN
Nguyễn
Khắc
Phước
Ca
khúc
TÌNH
KHÚC
ĐÊM
XUÂN
của
Cao
Hữu
Điền
có
hai
lời,
lời
1
của
nhà
thơ
Phương
Xích
Lô,
lời
2
của
chính
nhạc
sĩ,
và
cả
hai
tác
giả
đều
khá
nổi
tiếng
trong
giới
văn
học
nghệ
thuật
đất
Thần
Kinh.
TRUYỀN THUYẾT SÔNG THÁC MA Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước
TRUYỀN THUYẾT SÔNG THÁC MA
Truyện ngắn của Nguyễn Khắc
Phước
- Có thích ăn thịt heo rừng
không?
Thằng bạn nhà báo gọi tôi.
- Thích. Mầy đang ở đâu?
- Sài Gòn. Nhưng tao mời mầy
ăn thịt heo rừng ở thượng nguồn sông Thác Ma.
- Thác Ma ở đâu?
- Thác Ma còn gọi là sông Mỹ
Chánh chảy qua làng mầy mà mầy không nhớ hả?
- Biết đâu còn có sông Thác
Ma nơi khác.
- Cái tên dễ sợ vậy mà ai dám
đặt. Chỉ có ở Quảng Trị mình thôi.
- Vậy lúc nào mầy về?
- Chiều thứ sáu tới mầy phải
có mặt ở Quảng Trị để sáng thứ bảy là đi.
Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014
Đặc sản Quảng Trị ở Đà Nẵng: Cháo bánh canh cá lóc
Hình của Phạm Hồng Sơn.
Không cần tả cháo bánh canh
hay cháo bột cá lóc với người Quảng Trị bởi ai cũng từng ăn và được ăn ngon nếu
đã ghé quán bà Thủy ở Thị trấn Hải Lăng. Thế nhưng người Quảng Trị ở Đà Nẵng nếu
thèm món “cháo vạc chờng” rưng rức mùi nén đó thì không lẻ phải về tận Hải
Lăng? Vậy ắt cũng nên giới thiệu với bà con một quán cháo bột trên đường Huỳnh
Thúc Kháng, Đà Nẵng để ăn tạm cho đỡ thèm.
Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014
Đảo thỏ Okunoshima
Okunohima là một hòn đảo nhỏ
ở vùng biển giữa hai đảo lớn Hiroshima và Shikoku thuộc Nhật Bản . Cư dân chính của hòn đảo này là vô số
những chú thỏ dễ thương, lôi cuốn nhiều khách du lịch. Nhưng hòn đảo Okunoshima
có một lịch sử không thân thiện, và thỏ không phải là loài tự nhiên có sẵn ở
đảo này. Trong Thế chiến thứ hai, Nhật Bản đã dùng hòn đảo này để thử nghiệm các
loại khí độc và vũ khí hóa học khác. Đảo Okunoshima lý tưởng cho vị trí này, do
nó cách Tokyo và các khu vực dân cư lớn khác không xa, có thể di tản trong
trường hợp thiên tai.
Chương trình sản xuất và thử nghiệm vủ khí hóa học trong 16 năm (1929-1945).
Sau thất bại của Nhật Bản trong chiến tranh, nhà máy khí hóa học và phòng thí nghiệm đã bị phá hủy và đốt cháy tất cả các tài liệu liên quan. Sau chiến tranh, các nhân viên và người dân địa phương không còn ở lại trên đảo.
Chương trình sản xuất và thử nghiệm vủ khí hóa học trong 16 năm (1929-1945).
Sau thất bại của Nhật Bản trong chiến tranh, nhà máy khí hóa học và phòng thí nghiệm đã bị phá hủy và đốt cháy tất cả các tài liệu liên quan. Sau chiến tranh, các nhân viên và người dân địa phương không còn ở lại trên đảo.
ĐÔI MẮT / Truyện ngắn
- Chị Mai biết ai đây không?
Có người nào đó bịt mắt tôi từ
phía lưng và hỏi khi tôi đang ngắm tranh tại một phòng trưng bày gần chợ Đồng
Xuân. Quay lại, hóa ra là Hạnh, cô bạn nhỏ ngày xưa học cùng trường và ở cùng
xóm.
Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014
VỀ HỘI AN THĂM NHÀ THƠ NGUYỄN MIÊN THƯỢNG VÀ DỰ HỘI THƠ NGUYÊN TIÊU
Tin và ảnh: Nguyễn Khắc Phước
Cùng với đông đảo du khách từ rất nhiều nước trên thế giới, chúng tôi đi bộ qua các con phố thắp sáng bằng đủ loại đèn lồng, là nét đặc trưng của Hội An vào những lễ hội Đêm Rằm Phố Cổ. Nhà báo-nhà thơ Lê Bá Lư và tôi đến Hội An lần này cốt để dự Hội Thơ Đêm Nguyên Tiêu vào tối 14 tháng Giêng Giáp Ngọ nhằm ngày 13/2/14.
Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014
VỀ ĐỒNG TRŨNG HẢI LĂNG THĂM XÓM CÀNG
Nguyễn Khắc Phước
Địa hình huyện Hải Lăng đa dạng, ngoài vùng đồi bát úp phía tây quốc lộ, vùng cát phía đông quốc lộ, diện tích rộng nhất là vùng đồng trũng ở phía đông, thuộc vùng hạ lưu sông Ô Lâu.
Địa hình huyện Hải Lăng đa dạng, ngoài vùng đồi bát úp phía tây quốc lộ, vùng cát phía đông quốc lộ, diện tích rộng nhất là vùng đồng trũng ở phía đông, thuộc vùng hạ lưu sông Ô Lâu.
Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014
Bốn mươi năm rồi, em hãy về
Em hãy về đây ngày đầu năm
cùng nhau dạo lại đường bờ sông
như ngày đầu tình cờ gặp mặt
cho bỏ mười lăm nghìn ngày mình anh đi không.
CẤM HÔN
Chuyện ở một nhà ga ở xứ sương mù
Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013
Đêm mất ngủ tình cờ tìm được bài thơ bị bỏ quên
THƯ HỒI ÂM
Thế nào sang năm anh cũng về thăm
để mừng sinh nhật em bốn sáu
để mừng em đủ chồng con cháu
để nghe lại giọng cười thuở mười sáu vẫn còn tươi
Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013
Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013
Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013
Tiểu phẩm: BUÔN DƯA LÊ VỀ THUẾ XE MÁY
Hai
Ổi buồn rầu tha thở với Năm Dừa:
- Thằng
con tui mới kiếm được việc làm, mượn tiền mấy bà cô, bà dì của nó mua được một
xe máy, phải nhịn ăn một năm lương mới trả hết, đi chưa nóng đít đã phải đóng
thuế xe, nghĩ thiệt bực!
Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013
CHUYẾN ĐI TRẮC TRỞ
CHUYẾN ĐI TRẮC TRỞ
Truyện ngắn của Juozas Grusas
Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ
Xưa có một người chủ trang trại tên là
Valiulis tóc đã bạc phơ như sương muối đầu thu. Năm ông tám mốt tuổi, biết mình
sắp chết, sắp xa lìa một nông trang phát đạt, một người vợ không con trẻ hơn ông
hơn hai mươi tuổi, ruộng vườn bát ngát, cả bầu trời xanh và mây trắng nữa.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
