Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Tấm ảnh ngày xưa- Lê Dinh

 

Hợp âm guitar Tấm ảnh ngày xưa - Lê Dinh

  •  Thread starterCoca 
  •  Ngày gửi
Coca

Coca

Không gì là không thể

Ngày [D] nao em đến [F#m] chơi tặng [G] tôi một chiếc [D] hình
Ghi nhớ [A] ngày chúng mình vừa quen [Em] nhau
Năm tháng [A] dài ngày sau ghi nhớ [D] mãi
Hình [G] em tóc ngang vai lược giắt với hoa [D] cài
Nét mi [F#m] cong viền [Bm] khóe mắt u [Em] hoài
Khóe mắt u [A] hoài làm xao xuyến lòng [D] anh.

Chiều [D] nay sao nhớ [F#m] thương người [G] em qua chiếc [D] hình
Qua nét [A] mực yêu kiều và xinh [Em] xinh
Ghi mấy [A] hàng gởi anh câu luyến [D] mến
Tặng [G] anh để mai sau mình còn vẫn nhớ nhau [D] hoài
Dẫu xa [F#m] xôi lòng [Bm] vẫn nhớ thương [Em] hoài
Thương nhớ lâu [A] dài này em nhé đừng [D] quên.

Rồi thời gian êm [G] trôi xa cách buồn vời [Em] vợi
Khi ánh trăng vàng [Bm] lên khơi
Người về nơi xa [F#m] xôi năm tháng để một [G] người
Thương nhớ thuở nào [D] nguôi.

Rượu nồng nâng [G] ly sao uống cạn để [Em] rồi
Lưu luyến phương trời [Bm] mờ xa
Rồi ngày nay phôi [Em] pha
Thương lúc đầu mặn [F#m]
Thương [A] ngày vui chóng [D] qua.

Giờ [D] đây trong bóng [F#m] đêm mình [G] tôi bên chiếc [D] hình
Bao kỷ [A] niệm êm đềm ngày xa [Em] xưa
Như sống [A] lại người ơi trong ánh [D] mắt
[G] cho cách xa nhau lòng vẫn nhớ nhau [D] hoài
Dẫu xa [F#m] xôi hình [Bm] bóng khó phai [Em] mờ
Ôi khó phai[A] mờ thuở niên thiếu mộng [D] mơ.

DIIIxoo132
 thế bấm 
F#mIII134111
 thế bấm 
GIII32ooo4
 thế bấm 
AIIIxo213o
 thế bấm 
EmIIIo23ooo
 thế bấm 
BmIIIx13421
 thế bấm 

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Cách chữa bệnh


Cách chữa 46 loại bệnh tật bằng mẹo không cần thuốc

Dưới đây là chia sẻ của GS Nguyễn Lân Dũng.

Lưu lại khi cần mọi ngươi nhé. 


1. Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè:


Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều: nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.


02. Mắt nhắm không khít:


Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.


03. Mũi nghẹt cứng:


Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán – từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.


04. Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được:


Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chục cái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.


05. Bong gân, trật khớp cổ tay:


Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác – huyệt 100 – phản chiếu đúng cổ tay).


06. Bong gân, trật khớp vùng mắt cá chân:


Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.


07. Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút):


Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền. Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.


08. Gai gót chân:


Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.


09. Đầu gối đau nhức:


Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu chân) hết đau liền.


10. Bị táo bón lâu ngày:


Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút – khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết.


Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!


11. Nhức đầu


a. Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.

b. Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.

c. Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.

d. Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.

e. Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.

f. Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.

g. Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.

h. Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.

i. Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải.

k. Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.

l. Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.

k. Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.


12. Mất ngủ


Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là: trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon. Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt 26 của Diện Chẩn – đầu đôi lông mày) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.


13. Sình bụng (do ăn không tiêu)


Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!


14. Bí tiểu


Người lớn hoặc các cháu nhỏ có lúc bí tiểu, hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút, “cơn bí” hết liền! Cách vuốt như sau: ngón tay cái giữ chân cằm, ngón tay trỏ vuốt ụ cằm từ trên xuống dưới nhiều lần. Bàng quang sẽ được tháo nút, nước tiểu tự do chảy (theo Diện Chẩn, ụ cằm phản chiếu bàng quang – huyệt 87). Các cụ già hay đi tiểu đêm, các cháu nhỏ hay đái dầm, trước khi ngủ độ 15 phút hãy tự vuốt cằm đi, các “tật” trên sẽ tự biến rất nhanh!


15. Nấc cụt


Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:

a- Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).

b- Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!

c- Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!


16. Đau bụng


Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:

a- Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.

b- Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.

c- Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.


17. Đau tử cung:

a- Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.

b- Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.


18. Đau đầu dương vật:


Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.


19. Đau khớp háng:


Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.


20. Đau gót chân:


Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.


21. Đau bụng kinh:

Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.


22. Ho ngứa cổ:


a- Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.

b- Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phả chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.


23. Huyết áo cao:


Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.


24. Huyết áp thấp:


Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.


25. Huyết trắng:


Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.


26. Bế kinh:


Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên. Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.


27. Lẹo mắt (lên chắp)


Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.


28. Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên)


Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.

a. Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.

b. Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.


29. Mắt không di động được


Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.


30. Đắng miệng


Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!


31. Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5)


Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.


32. Hắt hơi liên tục


Sẽ hết ngay trong 1 phút nếu biết lấy ngải cứu hơ dọc từ giữa trán (huyệt 103) thẳng xuống đến giữa đôi lông mày (huyệt 26).


33. Ho khan lâu ngày


Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.


34. Hóc (hạt trái cây, xương)


Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.


35. Các khớp ngón tay khó co duỗi


Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.


36. Mắt quầng thâm


Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.


37. Buồn ngủ nhíu mắt lại


Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.


38. Nhảy mũi


Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!


40. Quai bị


Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.


41. Nhức răng

Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.


42. Mắt đỏ


Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.


43. Mắt nhức


Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.


44. Mắt nháy (giật)


Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) của đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.


45. Tê lưỡi, cứng lưỡi


a- Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.

b- Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.


46. Khản tiếng


a- Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.

b- Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày


Nguồn sưu tầm

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2026

VÒNG HỢP ÂM

 Trong âm nhạc, vòng hợp âm (chord progression) là một chuỗi các hợp âm được sắp xếp theo một thứ tự nhất định, lặp đi lặp lại xuyên suốt bài hát hoặc một đoạn nhạc. Nó đóng vai trò như "khung xương" hay "nền móng" để người nhạc sĩ xây dựng giai điệu và lời ca lên trên đó.


Dưới đây là 10 vòng hợp âm phổ biến nhất trong nhạc Việt, từ nhạc trẻ đến Bolero, được người chơi đàn bình dân đặc biệt yêu thích vì sự gần gũi và dễ đi vào lòng người:


1. Vòng Canon (C - G - Am - Em - F - C - F - G)


Đây là "vòng hợp âm quốc dân". Hầu như mọi bài nhạc trẻ ballad nhẹ nhàng hoặc nhạc pop tươi sáng đều có thể áp dụng vòng này.


Ví dụ: Xe đạp, Suy nghĩ trong anh.


2. Vòng "Bốn hợp âm thần thánh" (C - G - Am - F)


Vòng này cực kỳ phổ biến vì tính đa năng, có thể chơi được hàng trăm bài hát khác nhau chỉ với 4 hợp âm cơ bản.


Ví dụ: Làm vợ anh nhé, Chân ngắn.


3. Vòng Thứ cơ bản (Am - F - C - G)


Tạo cảm giác hiện đại, hơi buồn nhưng vẫn có nội lực. Rất nhiều bài nhạc Pop/Rock Việt Nam sử dụng cấu trúc này.


Ví dụ: Nơi tình yêu bắt đầu, Anh sai rồi.


4. Vòng Bolero truyền thống (Am - Dm - E7 - Am)


Đây là linh hồn của nhạc vàng. Vòng này tạo ra âm hưởng ray rứt, tự sự đặc trưng của dòng nhạc miền Nam.


Ví dụ: Con đường xưa em đi, Thành phố buồn.


5. Vòng 1 - 4 - 5 (Am - Dm - Em/E7)


Dành cho các điệu Slow Rock hoặc Boston trữ tình. Sự chuyển đổi giữa bậc 1, 4 và 5 tạo ra sự giải quyết âm thanh rất thuận tai.


Ví dụ: Lòng mẹ, Nhật ký đời tôi.


6. Vòng 2 - 5 - 1 (Dm7 - G7 - Cmaj7)


Dù mang hơi hướng Jazz/Pop nhưng trong nhạc Việt hiện đại (như các bài của Vũ, Chillies), vòng này được dùng rất nhiều để tạo cảm giác sang trọng, thư thái.


Ví dụ: Lạ lùng, Bước qua nhau.


7. Vòng Quảng 4 (Am - Dm - G - C - F - Bdim - E7 - Am)


Vòng này tạo ra sự chuyển động liên tục, thường thấy trong các bài hát có giai điệu mượt mà, nhiều cảm xúc.


Ví dụ: Diễm xưa, Hạ trắng.


8. Vòng Ballad cổ điển (Am - G - F - E7)


Một vòng hợp âm đi xuống dần, mang lại cảm giác buồn bã, trầm tư, rất hợp với những bài hát tâm trạng.


Ví dụ: Cát bụi, Tình xa.


9. Vòng Pop vui tươi (C - Am - F - G)


Thường dùng cho các bài hát nhịp nhanh, vui vẻ hoặc nhạc thiếu nhi, nhạc sinh hoạt tập thể.


Ví dụ: Bốn phương trời, Vào hạ.


10. Vòng "Ngũ cung" biến tấu (Am - C - D - F)


Thường xuất hiện trong các bài nhạc Việt có âm hưởng dân gian đương đại hoặc Rock pha chút chất liệu truyền thống.


Ví dụ: Chiếc khăn piêu, Son.


Mẹo nhỏ cho bạn:

Nếu bạn đang tập đệm hát hoặc làm nhạc karaoke, việc nắm vững vòng Am - Dm - G - C - F - E7 - Am sẽ giúp bạn xử lý được khoảng 70-80% các bài hát trữ tình Việt Nam phổ thông.



VÒNG HỢP ÂM BOLERO


Trong nhạc Bolero – dòng nhạc "vàng" gắn liền với đời sống bình dân Việt Nam – các ca khúc như "Con đường xưa em đi", "Thành phố buồn", hay "Sầu lẻ bóng" thường vận hành dựa trên những quy luật hòa âm rất đặc trưng để tạo ra cảm giác nỉ non, tự sự.

Dưới đây là các vòng hợp âm "xương sống" mà những người chơi đàn phong trào hoặc nhạc công đám tiệc thường sử dụng:

1. Vòng hợp âm cơ bản (Bậc I - IV - V)

Đây là cấu trúc tối giản nhất, thường dùng cho giọng La thứ (Am):

  • Vòng: Am - Dm - E7 - Am

  • Đặc điểm: Sự chuyển đổi từ hợp âm chủ (Am) sang hợp âm át (E7) tạo ra một sức hút mãnh liệt, khiến giai điệu có độ "treo" và giải quyết về âm chủ rất êm tai.

  • Áp dụng: Hầu hết các câu hát trong "Con đường xưa em đi" đều xoay quanh trục này.

2. Vòng quãng 4 đi xuống (Vòng tuần hoàn)

Đây là vòng hợp âm "sang" hơn một chút, tạo sự mượt mà và giúp ca sĩ dễ luyến láy:

  • Vòng: Am - Dm - G - C - F - E7 - Am

  • Phân tích:

    • Am -> Dm: Bắt đầu nỗi buồn.

    • G -> C: Tạo sự tươi sáng nhẹ (thường rơi vào các ca từ hoài niệm về kỷ niệm đẹp).

    • F -> E7: Chuẩn bị cho sự kịch tính, dồn nén trước khi kết thúc câu.

  • Ví dụ: Đoạn "Chiến trường anh bước đi..." thường dùng các biến tấu từ vòng này để tăng cảm xúc.

3. Vòng hợp âm ở đoạn Điệp khúc (Chorus)

Trong Bolero, đoạn điệp khúc thường chuyển tông (ly tâm) sang Đô trưởng (C) hoặc các hợp âm trưởng để tạo sự cao trào, sáng sủa hơn trước khi quay lại nỗi buồn của tông thứ:

  • Vòng: C - F - G7 - C (sau đó kết nối về E7 - Am)

  • Cảm giác: Mang lại sự hy vọng hoặc hồi tưởng rực rỡ, giúp bài hát không bị quá u uất từ đầu đến cuối.

4. Cấu trúc hợp âm trong "Con đường xưa em đi" (Tone Am)

Nếu bạn cầm đàn Guitar hoặc Organ, có thể áp dụng khung sau:

  • Vào bài: Am (Con đường xưa em đi) -> Dm (vàng dẫn lối) -> Am (chiều nay).

  • Chuyển tiếp: E7 (Gói ghém kỷ niệm) -> Am (vào trong tim).

  • Điệp khúc: Chuyển sang C (Ghi dấu chân người) -> F (thế hệ) -> G7 (sau này).


Tại sao người bình dân lại thích những vòng này?

  • Dễ nhớ: Chỉ cần thuộc 5-6 thế tay cơ bản là có thể đệm được cả nghìn bài.

  • Hợp với giọng hát: Cấu trúc này hỗ trợ rất tốt cho cách hát "bolero" (xuống thấp nỉ non, lên cao vừa phải).

  • Tính kể chuyện: Vòng hợp âm Bolero thường có nhịp điệu chậm rãi (2/4 hoặc 4/4), tạo không gian cho lời ca kể về thân phận, tình yêu và quê hương.


VÒNG HỢP ÂM TRONG NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN


Nhạc Trịnh Công Sơn có một phong cách hòa âm rất riêng biệt, vừa mang tính cổ điển (Semi-classic), vừa có chút hơi hướng Jazz và Blue, nhưng vẫn giữ được sự mộc mạc của tâm hồn Việt.

Các vòng hợp âm của ông thường không quá lắt léo về mặt kỹ thuật, nhưng lại rất giàu tính "chuyển động" để diễn tả sự trôi chảy của thời gian, thân phận và hư vô.

Dưới đây là các vòng hợp âm đặc trưng nhất trong nhạc Trịnh:

1. Vòng quãng 4 đi xuống (Vòng tuần hoàn kinh điển)

Đây là "linh hồn" trong các bản Slow Rock hoặc Boston của Trịnh Công Sơn. Nó tạo ra một dòng chảy âm thanh liên tục, không dứt.

  • Cấu trúc (Giọng Am): Am - Dm7 - G7 - Cmaj7 - Fmaj7 - Bm7b5 - E7 - Am

  • Cảm giác: Sang trọng, mượt mà và hơi mang tính "trình diễn" phòng trà.

  • Ví dụ: Diễm xưa, Hạ trắng, Ru em từng ngón xuân nồng.

2. Vòng hợp âm Bass đi xuống (Descending Bassline)

Nhạc Trịnh rất chuộng việc giữ nguyên hợp âm chủ nhưng thay đổi nốt Bass thấp dần để tạo cảm giác hụt hẫng, lãng đãng.

  • Cấu trúc: Am - Am/G - F#m7b5 - Fmaj7 - E7

  • Cảm giác: Diễn tả sự tàn phai, rơi rụng hoặc nỗi buồn thâm trầm.

  • Ví dụ: Cát bụi, Tình xa, Đêm thấy ta là thác đổ.

3. Vòng "Ly tâm" sang Trưởng (Parallel Major/Relative Major)

Ông thường xuyên chuyển đổi giữa tông Thứ và tông Trưởng một cách khéo léo để thay đổi màu sắc cảm xúc (từ tối sang sáng và ngược lại).

  • Cấu trúc: Đang ở Am (buồn) bất ngờ chuyển sang A Trưởng hoặc C Trưởng ở những câu hát mang tính triết lý hoặc hy vọng.

  • Ví dụ: Trong bài Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui hoặc Để gió cuốn đi.

4. Vòng Blue/Jazz đơn giản (Vòng II - V - I)

Trong các bài nhạc có tiết tấu vui tươi hơn (như Swing hoặc Fox), ông sử dụng vòng này để tạo sự phóng khoáng.

  • Cấu trúc: Dm7 - G7 - Cmaj7

  • Ví dụ: Quỳnh hương, Nắng thủy tinh.

5. Sử dụng các hợp âm "màu" (Hợp âm 7, Mmaj7, Add9)

Người bình dân khi chơi nhạc Trịnh thường thích thêm các nốt "màu" để tiếng đàn nghe có chiều sâu hơn:

  • Thay vì đánh Am đơn thuần, họ thường đánh Am7 hoặc Am9.

  • Thay vì E7, họ dùng E7b9 để tạo sự kịch tính kiểu cổ điển.


Bảng tóm tắt cho người mới tập đệm nhạc Trịnh:

Tên vòngCác hợp âm chính (Tông Am)Cảm xúc mang lại
Vòng Cổ điểnAm - Dm - G - C - F - E7 - AmMượt mà, dễ hát, phổ thông.
Vòng Tự sựAm - Am/G - D/F# - F - E7Trầm mặc, suy tư về thân phận.
Vòng Điệp khúcC - Em - Am - Dm - G7 - CSáng sủa, cao trào, hoài niệm.

Một điểm thú vị: Nhạc Trịnh Công Sơn rất kỵ việc đệm quá "dày" hay quá chát chúa. Người chơi đàn giỏi thường chọn cách rải (Arpeggio) nhẹ nhàng hoặc quạt chả (Strumming) thật êm để làm nổi bật lời ca đầy chất thơ của ông.


Nguồn: Sưu tầm.