Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

BÀ NGOẠI GARINE CỦA TÔI - Truyện ngắn của Karin Karakasli - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước







Karin Karakasli sinh ở Istanbul năm 1972. Bà tốt nghiệp ngành Dịch thuật và Phiên dịch từ Trường Ngoại ngữ của Đại học Bo’sazici. Từ năm 1996 đến 2006, bà làm việc tại  tuần báo Thổ Nhĩ Kỳ - Armenia Agos với tư cách là biên tập viên, trưởng phòng biên tập và chuyên mục trên cả hai trang tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và Armenia. Bà đã hoàn thành bằng thạc sĩ Văn học So sánh.

Sách của bà bao gồm một cuốn tiểu thuyết dành cho trẻ em tên là “Ay Denizle Buluşunca” (Khi mặt trăng gặp biển),1997, các tuyển tập truyện ngắn “Başka Dillerin Şarkısı” (Những Ca Khúc Của Những Ngôn Ngữ Khác), 1999, và “Can Kırıkları” (Mãnh Vụn Trái Tim), 2002, tác phẩm thơ “Her Kimsen SANA” (DÀNH TẶNG BẠN Dù Bạn Là Ai), tiểu thuyết “Müsait Bir Yerde İnebilir Miyim?” (Làm Ơn Cho Tôi Bước Ra Đâu Đó?), 2005.

Bà đứng thứ ba trong Cuộc thi Truyện ngắn của Nhà sách Gençlik năm 1994, và bà tiếp tục giành giải nhất vào năm 1995, và đã được trao Giải thưởng Nhà văn trẻ Yaşar Nabi Nayır năm 1998. Cuốn sách “Dört Kozalak” (Bốn Nón Thông) của bà được đặt tên là Sách dành cho giới trẻ năm 2014. Bốn Nón Thông kể chuyện về bốn sinh viên mặc dù nguồn gốc gia đình khác nhau nhưng đã giúp nhau vượt qua nhiều khó khăn trong học tâp. Cuốn sách gần đây nhất của bà, “Insufficient Funds”, được xuất bản năm 2015.

Bà là đồng tác giả của cuốn sách nghiên cứu “Türkiye hède Ermeniler: Cemaat, Birey, Yurttaş” (Người Armenia ở Thổ Nhĩ Kỳ: Cộng đồng, Cá nhân, Công dân).

Hiện bà đang sống ở İstanbul, là giảng viên dịch thuật tại Trường Đại học Yeditepe, giáo viên dạy ngôn ngữ và văn học Armenia tại Trường Trung học Armenia.

*

BÀ NGOẠI GARINE CỦA TÔI

Truyện ngắn

KARIN KARAKASLI (Thổ Nhĩ Kỳ)

Nguyễn Khắc Phước dịch.



Mang lại niềm vui và tin lành cho mọi người, đừng cự tuyệt họ,

Mở đường và đừng làm cho con đường trở nên quá khó khăn.

                                             Tiên tri Muhammad.


Trong tim tôi, tất cả vị trí quan trọng nhất đều dành cho bà ngoại tôi. Chúng tôi có ngôn ngữ đặc biệt bí mật. Ký ức của tôi về bà bị manh mún và chỉ đến hôm nay các mảnh ghép ấy chuyển vị trí và chúng tạo thành một tổng thể, bỗng chốc tràn vào tâm trí tôi. Bà ngoại  Kadriye Nene của tôi, người nổi tiếng có mái tóc đen tuyền. Tất nhiên, vào thời điểm tôi biết bà, tóc bà đã bạc, nhưng trong những bức ảnh chụp với ông ngoại tôi, mắt bà đen láy, tóc bà đen nhánh, đen như chim quạ.

Tôi chưa bao giờ biết ông ngoại Tashin của tôi. Ông mất vì bệnh tim ở tuổi chưa già lắm, hai năm trước khi tôi chào đời. Cái chết đột ngột của ông khiến bà tôi sụp đổ. Bà không thể sống trong căn nhà đầy ắp kỷ niệm đè nặng tâm hồn bà. Bà chuyển đến ở với chúng tôi và giúp chăm sóc tôi.  

Ngay cả nhiều năm sau, mỗi khi có cuộc họp mặt gia đình và câu chuyện xoay quanh ông ngoại tôi, bao giờ bà cũng đầy nước mắt. Qua lời bà, tôi cảm thầy bà dành cho ông tôi lòng biết ơn nhiều hơn là tình yêu. “Tashin yêu quý không bao giờ nói lời không hay về tôi,” bà nói. “Tôi hy vọng ông ấy đang nghỉ ngơi ở cõi yên bình.”

Nghe vậy, cậu tôi thường xen vào, “Có ai nói gì không hay về mẹ đâu, phải không mẹ?”

Bà là một phụ nữ ngoan đạo, thường xuyên cầu nguyện. Bà cầu nguyện cho những người thân yêu của mình với lòng chân thành và tôn kính thực sự đối với Chúa. Ở khu phố của chúng tôi, mọi người đều biết những lời cầu nguyện của bà luôn được Chúa nhậm. Bạn bè và bà con thường đến để yêu cầu bà cầu nguyện cho điều ước của họ trở thành sự thật. Bà thường dành những đêm thánh Kandil và Kadir để cầu nguyện. Bà không thể chịu đựng khi thấy những người thân yêu chia tay. Cảm thông với những cuộc chia tay như vậy, bà thường dâng lời cầu nguyện tới Allah, “Xin Ngài hãy giúp họ được tái hợp vững bền.”

Giọng bà trong như pha lê. Vào buổi tối, chúng tôi thường tắt tivi và yêu cầu bà hát cho chúng tôi nghe. Bà hát những bản ballad và dân ca rất hay. Bà không từ chối yêu cầu của chúng tôi nhưng tôi chưa bao giờ nghe một nốt nhạc nào từ vùng Erzurum hoặc miền Đông từ môi bà. Một buổi tối, tôi nài nỉ nghe cho được, nhưng mẹ tôi vẫy tay biểu tôi im. “Con biết rằng bà sẽ làm bất cứ điều gì cho con, cháu cưng của bà,” bà tôi nói sau một phút im lặng, vẻ đau khổ. “Đừng yêu cầu bà hát những bài hát đó,” bà nói. “Erzurum là một vết thương bà mang trong lòng.” Tôi đành thôi hỏi tại sao.

Bà và ông ngoại quê ở Erzurum. Bà là một đứa trẻ mồ côi. Ông chú của ông ngoại tôi đã đưa bà về, lúc ấy là cô cô bé Nene nghèo và không thân thích. Nene kết hôn với ông ngoại tôi và đến Istanbul năm 17 tuổi. Bà  không bao giờ kể về cha mẹ mình. Bà xem cha mẹ nuôi của mình như cha mẹ ruột và thường nói về họ. Tôi quyết định hỏi mẹ tôi về việc ấy. “Mẹ có bao giờ thắc mắc về ông bà cố ngoại không? Mẹ không muốn biết sao?” “Không, thắc mắc làm chi cho bà bực mình,” mẹ trả lời, mắt chăm chú vào đồ đang rửa. “Bà không bao giờ biết cha mẹ thật của mình. Còn hỏi gì nữa không?” Mẹ tôi nhúng cái bình sạch vào thau nước lần thứ hai.

Hồi còn bé, một trong những thú vui tôi thích nhất là được ngồi yên ở một góc phòng khách vào những ngày bà tôi mời bạn bè đến uống trà. Tôi chỉ cần kiên nhẩn im lặng thì thế nào cũng có một bà cúi xuống nói “Ồ, Pasha, cháu chóng lớn lắm nhé!” Tôi được ăn bao nhiêu bánh Kurabiye tùy thích. Đó là những ngày hạnh phúc. Nằm cuộn mình trong góc, nghe những người hàng xóm buôn chuyện, tôi thường ngủ thiếp đi. Nhưng một ngày nọ, tôi không thể nuốt được miếng nào. Tiếng nói, tiếng cười the thé thông thường đã nhường chỗ cho sự im lặng căng thẳng, ngột ngạt. Không buồn ngủ nữa. Tôi bối rối nhìn họ.

Trước lúc ấy tiếng cười vẫn rộn ràng và bánh trái vẫn bề bộn. Một bà muốn lấy túi xách của mình nhưng nó xa quá nên ra hiệu cho người bên cạnh lấy giúp. Người lấy giúp nắm lấy cái túi, cố gắng nâng nó lên, đưa nó cho chủ nhân và nói, “Cái gì ở trong mà nặng thế này? Nặng hơn một xác một người Kitô giáo!”

Âm thanh của câu nói đó vang khắp phòng với độ chính xác dường như được tinh chỉnh. Trong phút im lặng tê liệt đó, con dao đã bay, sáng lấp lánh như lưỡi kiếm và đâm vào tim bà ngoại tôi. Tôi nhìn thấy con dao, tôi nghe thấy tiếng rít bay trong không khí. Bà tôi nhảy lên và áp hai tay lên ngực. Tôi khá chắc rằng nếu bà cho tôi thấy lòng bàn tay, chúng sẽ đặc quánh máu. Tuy nhiên, khi cánh tay của bà cuối cùng buông xuống, không thấy máu me gì. "Xin các bạn tha lỗi cho tôi…” bà nói trong hơi thở nghẹn ngào. Quay lưng lại với những người phụ nữ, bà rút vào phòng. “Để con lấy nước trà cho mẹ nhé,” mẹ nói và đi về phía bếp, những ly trà va chạm nhau kêu leng keng trong khay trên tay mẹ.

 “Xấu hổ chưa, Selma!” Bà lớn tuổi nhất, Hüsniye, nói. “Chị ngốc quá! Làm thế nào chị có thể nói một điều như vậy trước mặt Kadriye?” Mặt Selma chuyển sang màu đỏ. “Tôi không có ý đó, chị Hüsniye! Đó là câu thành ngữ,và tôi chỉ buột miệng vậy thôi!” Bà Hüsniye chuẩn bị nói tiếp khi bà ấy nhận ra rằng tôi vẫn ở trong phòng, nhìn họ với đôi mắt mở to. Bà  ấy ngừng nói. Những người phụ nữ lập tức nối lại cuộc trò chuyện như những người lính nhận được một mệnh lệnh bí mật.

Vào buổi tối ngày hôm đó, tôi thấy bà ngoại gục đầu vào vai mẹ tôi, khóc. Câu nói của họ đã khiến ngoại không còn muốn giao tiếp nữa và bây giờ người phụ nữ mạnh mẽ này khóc trên vai cô con gái của mình như một đứa trẻ nhỏ. Qua một vết nứt ở cửa, tôi nghe mẹ nói, “Trái tim của mẹ thật nhân hậu, mẹ ạ. Đừng tự làm khổ bản thân vì một người vô ý vô tứ đó. Nhớ khi con còn nhỏ, lúc bạn bè và con đang chơi bên ngoài gây ồn ào, hãy nhớ mẹ đã tức giận như thế nào khi một người hàng xóm gọi con là đồ lại cái? Nhớ mẹ nói gì không? 'Đợi đó, tao sẽ lộn ruột mày ra  ngoài cho mầy xem!' Người phụ nữ đó sợ quá phải thụt vô nhà! Hôm đó, mẹ đã dạy con thế nào là một người phụ nữ mạnh mẽ.” Bà tôi cười, tỏ vẻ xấu hổ. Tôi rón rén bước vào phòng ngủ để nghe tiếng họ cười rúc rích với nhau. Trước khi ngủ thiếp đi, tôi tưởng tượng mình đang tìm từ điển, xóa sạch những từ làm tổn thương ngoại tôi. Tôi không biết những từ đó có nghĩa gì, hoặc tại sao chúng lại làm ngoại buồn như vậy. Không biết chúng gây ra chuyện gì. Nếu chúng làm tổn thương bà thì chúng phải bị tiêu diệt. Tôi chĩa súng nước vào các trang từ điển. Nước phun ra và mực trôi đi, để lại những trang giấy sạch sẽ. Sạch đến độ trắng tinh.

Những giấc mơ về thế giới thời thơ ấu của tôi chẳng ăn thua gì bởi những điều làm bà ngoại của tôi thất vọng vượt xa giới hạn của một cuốn từ điển. Vào một dịp nọ khi tôi lên sáu hoặc bảy tuổi, chúng tôi cùng đi phố để mua sắm. Ngoại nắm chặt tay tôi như thường lệ. Tay còn lại chúng tôi cầm túi nhựa phất phơ sột soạt. Ngoại tỏ ra là  người lắng nghe trung thành nhất của tôi và tôi huyên thuyên kể về một trong những cuộc phiêu lưu không bao giờ dứt của tôi. Ngay lúc đó, một tiếng nổ vang lên. Bà tôi sững người. Cái túi nhựa trong tay bà rơi xuống đất nhưng bà chẳng quan tâm, đôi mắt bà dán chặt vào nơi khác. Tôi buông tay bà và đi nhặt cái túi lên, nhưng bà không chú ý. Tôi lại nắm tay bà - tay bà lạnh như nước đá. Cố gắng hiểu chuyện gì không hay đang xảy ra, tôi hướng mắt về tòa nhà mà bà đang nhìn chằm chặp ấy. Tôi không biết đó là nhà gì. Không phải là nhà ở. Cũng không phải là một cửa hàng. Nhưng bà ngoại bị hút hồn, bà hoàn toàn quên sự có mặt của tôi. Bà ngây người ra nhìn, dường như ngôi nhà cũ vô hồn đó là những người bạn mà bà đã không gặp trong trong nhiều năm. “Mình đang ở đâu, ngoại ơi?” tôi hỏi. Khi nghe tiếng của tôi, bà tỉnh lại, như thể từ một giấc mơ, nhìn tôi và những chiếc túi trên tay tôi. “Đưa mấy cái túi ấy cho bà.” Lấy túi xong, bà kéo tôi vào sát bà và tiếp tục đi. Mọi sự trở lại như cũ. Nhưng tôi vẫn bị kích động. “Cái nhà gì vậy, ngoại?” Tôi hỏi lại. “Đó là nhà thờ người Armenia,” bà nói nhỏ. “Con biết chúng ta cầu nguyện trong nhà thờ Hồi giáo chứ? Còn họ thì cầu nguyện trong nhà thờ Kitô giáo.”

Trong một lần khác không bao giờ tôi quên. Hồi ấy tôi là một thiếu niên đang học tại lycée, đang mệt dứt hơi vì khóa học về cách mạng. Bà tôi giúp tôi học từ khi tôi học tiểu học và thường xuất hiện trước cửa phòng tôi với một ly nước cam trong tay. “Cháu  đang học gì vậy, Hakan?” Tôi nhìn vào tiêu đề của chương: “Vấn đề Armenia và cuộc chiến với người Armenia.” Có gì đó bảo tôi không nên cho bà biết. Tôi chỉ trả lời, “Chỉ là lịch sử thôi, ngoại ơi, nhàm chán lắm!” Chính lúc đó, cô em gái bé bỏng của tôi xía vào, “Cháu đọc được, để cháu đọc nhé!” Nó giật cuốn sách và đọc một cách háo hức:

 “Khi người Nga tiến đến Đông Anatolia trong những năm đầu của Thế chiến thứ nhất, người Armenia có cơ hội nổi dậy. Đã chuẩn bị trước khi chiến tranh bắt đầu, các nhóm phiến quân Armenia tham gia cùng với người Nga. Cuộc nổi dậy đầu tiên xảy ra ở Zeytun (Süleymanlı) vào ngày 17 tháng 8 năm 1914. Những người lính Armenia ở Ma-na đã cầm vũ khí của họ cùng tham gia, và bắt đầu tấn công các ngôi làng Thổ Nhĩ Kỳ, giết hại nhiều cư dân. Vào tháng 4 năm 1915, những người Armenia nổi loạn ở Van đã tàn sát khu vực dân cư Thổ Nhĩ Kỳ. Đáp lại, chính phủ Ottoman đã đưa ra quyết định rằng người Armenia ở Đông Anatolia sẽ được di cư sang Syria, nơi không có nguy cơ chiến tranh vào thời điểm đó (Luật Tehcir, ngày 14 tháng 5 năm 1915). Mục tiêu của người Armenia là yêu sách đòi lãnh thổ các vùng Kilikya (Ukurova), Maraş, Erzurum, Bitlis, Van, Harput và Diyarbakır và tạo thành một bang của riêng họ. Người Armenia đã không từ bỏ mục tiêu này cho đến ngày nay. Trong nỗ lực để thực hiện điều này, họ tiếp tục ủng hộ các hành động khủng bố đe dọa đến sự thống nhất của đất nước chúng ta.”

Trong khi em tôi đọc, tôi ngồi cúi mặt, hai tay ôm đầu. Tôi không dám nhìn ánh mắt của bà tôi, chắc chắn đang tràn trề nước mắt. Em gái tôi thiệt ngu ngốc. Nhưng giây lát sau, tôi giật mình khi nghe Elvan hỏi, “Tại sao ngoại lại cười?” Nó hỏi đúng; một nụ cười nở trên khuôn mặt bà tôi. Đó không phải là nụ cười hạnh phúc. Nụ cười đó làm tôi nghĩ đến Mona Lisa, một nụ cười cam chịu khi đối mặt với đau khổ. “Bao lâu nay họ viết như vậy à?” Bà nhìn chằm chằm xuyên qua chúng tôi, dường như nói với một người vô hình khác. “Có nhiều người Armenia hàng xóm ở Erzurum. Họ là những người tốt, chăm chỉ. Bà chưa bao giờ thấy bất kỳ dấu hiệu gì là  ‘khủng bố’ ở họ vào lúc ấy và bà cũng không thấy dấu hiệu ‘khủng bố’ gì ở người Armenia mà chúng ta biết bây giờ. Có thực họ viết vậy không?" Bà đứng dậy và loạng choạng đi về phòng.

Nhiều năm sau, khi truyền hình và báo chí gào thét những báo cáo về “các tổ chức khủng bố của người Armenia,” thì bà tôi không còn biết gì nữa. Các bác sĩ thấy không cần phải can thiệp. Vẫn ở nhà, bà ngoại tôi lặng lẽ bắt đầu một hành trình dài, thoát khỏi đau khổ. Trong những ngày cuối cùng, bà thường nói chuyện trong giấc ngủ, nhưng tôi không thể hiểu được một từ nào. Lúc đầu, tôi nghĩ rằng không có ý nghĩa gì trong tiếng thì thầm của bà, rằng bã đã lú lẫn rồi, lưỡi bà đang cố tạo ra âm thanh, nhưng khi tôi lắng nghe kỹ hơn một chút, tôi nhận thấy những từ ngoại ngữ, một thứ tiếng liên tục như nước chảy và nghe như một bài hát. Tôi nghĩ ra một số câu hỏi và tối hôm đó tôi hỏi mẹ, “Có phải bà ngoại nói tiếng Armenia không?” Mẹ không ngạc nhiên, cũng không ngần ngại khi trả lời, “Đúng vậy.” “Có bao giờ ngoại kể cho mẹ nghe chuyện ngày xưa của ngoại không?” Mẹ tôi vuốt ve bàn tay bà một cách yêu thương, biết rằng bà sẽ sớm ra đi. "Chỉ một lần. Ngoại nói như thể mọi chuyện không liên quan gì đến ngoại, như thể ngoại chỉ chứng kiến ​​điều đó. Ngoại kể với mẹ về người thân, vườn cây, hoa màu, bánh mì nướng ở nhà, làm thế nào ngoại trải nệm sạch ra mỗi đêm. Sau đó, máu, toàn là máu, tiếng thét gào, rồi đi tỵ nạn cùng với hàng xóm và rời xa mãi mãi, biết rằng sẽ không bao giờ trở lại.”

“Tên ngoại bằng tiếng Armenia là gì?” tôi hỏi mẹ. Một nụ cười làm sáng lên khuôn mặt hiền dịu của mẹ tôi, đôi mắt mẹ tràn ngập ánh sáng. Giống như một mật khẩu, mẹ tôi nói nhỏ, chậm rãi và rõ ràng, “Garine. Ngoại của con là Garine Yaya.” “Garine,” tôi nhìn bà và lặp lại. Thân xác của bà ở với chúng tôi nhưng linh hồn bà đã ở rất xa. Mẹ tôi lại nói, “Garine bằng tiếng Armenia có nghĩa là Erzurum."

Hai ngày sau, bà ngoại tôi qua đời. Sau lễ cầu nguyện Namaz giữa trưa, bà được đưa từ nhà thờ Hồi giáo Şişli đến lô đất nghĩa trang của gia đình tại Zincirlikuyu và chôn cất bên cạnh người chồng yêu dấu của bà. Sau đám tang, tôi đến nhà thờ Armenia, nơi bà đã đứng nhiều năm trước, sợ quá nên không dám vào bên trong. Tôi đã thắp một ngọn nến lớn cho Garine Yaya của tôi, cho bà cố và ông cố, cho anh chị em của bà và tất cả những người thân yêu mà bà đã mất, và tôi đã cầu nguyện rất lâu. Khi tôi chuẩn bị rời đi, một bà già người Armenia vào nhà thờ cùng với một người bạn, cùng nói một ngôn ngữ như nước chảy. Và đôi mắt của bà. Đôi mắt của bà ấy giống như đôi mắt của bà ngoại tôi. Tôi mỉm cười và cúi đầu chào bà. Bà đáp lại một cách lịch sự và nụ cười của bà làm lộ ra những nếp nhăn đẹp lão.

Bà ngoại Garine Yaya đã nhìn thấy tôi, linh hồn của bà đã vuốt ve tôi. Tôi hít một hơi thật sâu.

Karin Karakasli

***

Nguyễn Khắc Phước dịch từ bản tiếng Anh của Ayça Türkoğlu, “Garine”, đăng trên https://www.wordswithoutborders.org/issue/october-2017-turkish-short-stories


Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

MẸ VÀ CON - Truyện ngắn


MẸ VÀ CON

Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước



     Thấy tổ trưởng dân phố Mẹo đạp xe ngang qua quán cà phê, tôi kêu:
     - Bác tổ trưởng ơi, vào phê chút đã, đi đâu mà mấy bữa nay thấy vắng?
     - Có việc mới đi chớ. Tổ trưởng nói, vẻ quan trọng.
     - Thì đi họp hội bảo thọ là cùng chớ chi?
     - Không. Đi lên trên nữa để lo giấy tờ cho bà con. Ai cần gì thì tui giúp nấy, chỉ mong cho được việc của bà con là tui mừng.
     Hoá ra là tổ trưởng bấy lâu nay giúp bà con nhiều lắm lắm. Không biết gọi nghề của bác là gì, đại loại bác giúp bà con trong cũng như ngoài tổ những dịch vụ như cắt, chuyển, tách, nhập hộ khẩu, xin giấy phép xây dựng nhà, làm sổ đỏ sổ hồng, mua bán chuyển nhượng đất đai, vv và vv.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

CHUYỆN LÀM DÂU

Thử viết song thất lục bát để giao lưu với bạn Lê Văn Hảo.



Tiệc đã đặt và hoa đã kết
Khách đầy nhà như tết đông vui
Xập xình kèn nổi trống chơi
Mừng cho con gái đẹp đôi duyên lành
Người người chúc đôi tình hạnh phúc
Mãi đến khi tóc mục răng long
Sinh ra trai tráng anh hùng
Gái thời hoa hậu lấy ông đại giàu
Đời vô thường biết đâu mà tính
Tâm con người ấm lạnh sao toan
Tháng đầu có vẻ êm trơn
Tháng sau sinh chuyện dỗi hờn, cãi nhau
Ở nhà mình được bao chiều chuộng
Đến nhà người làm tướng được sao?
Nếu quên chữ nhẫn buổi đầu
Thì e rắc rối về sau khó lường
Nhà chồng vốn có đường có lối
Nay mình về phải hỏi mà theo
Nếu không khác biệt giàu nghèo
Cũng là tập quán lắm điều khó xơi
Thêm một người cũng làm đảo lộn
Cái nếp nhà đã vốn bình yên
Nhà chồng dù vốn là hiền
Bỗng dưng thêm miệng cũng phiền người ta
Chuyện bếp núc thành ra phức tạp
Chén đũa dơ, nhà nhớp ai lau
Mẹ chồng nói có nàng dâu
Nàng dâu nói việc ấy đâu của mình
Từ đó sinh lình xình lủng củng
Bực mình rồi đá thúng đụng nia
Người này đổ lỗi người kia
Thành ra mâu thuẩn khó bề giải phân
Toan tính chuyện bước chân ra khỏi
Để bắt đầu một cõi sống riêng
Chạy theo cơm áo gạo tiền
Vợ chồng cãi cọ liên miên suốt tuần.
Và hạnh phúc chẳng buồn đến viếng
Mà vỡ tan cứ liệng ngoài sân
Nếu không nhịn nhún một phần
Thì đi cho khỏe, chẳng cần chờ lâu.       
Cuộc đời vốn lo âu sầu khổ
Nên luôn luôn phải cố bình tâm
Sống vì người làm phương châm
Hạnh phúc sẽ tự nảy mầm xanh tươi.







Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

CÁI CUỘN CHỈ - Truyện ngắn






CÁI CUỘN CHỈ

Truyện ngắn

Nguyễn Khắc Phước


Thượng lưu sông Thác Ma là vùng nổi tiếng với đặc sản chè lá, thơm và mít, cung cấp cho các chợ vùng hạ lưu chuyên trồng lúa và những chợ vùng duyên hải Quảng Trị, Thừa Thiên. Thím Lành là một trong những người chuyên buôn bán những mặt hàng đó.

Thím Lành ở thôn Tân Điền, cách chợ Mỹ Chánh chừng hai giờ đi bộ, thế mà ngày nào thím cũng kiũ kịt gánh hàng xuống chợ. Thiệt tội cho đôi vai của thím và cả cái đòn gánh oằn xuống như sắp gãy. Cứ vài chục bước thím lại đổi vai, chứng tỏ gánh hàng nặng lắm, nặng đến mức tột cùng của sức chịu đựng, tưởng như một cái lá cũng không thêm vào được.

Suốt buổi chiều, thím đến các chủ vườn mua hàng. Khi vừa đủ nặng, thím gánh hàng về nhà. Từ ba giờ sáng, khi trời còn tối mờ tối mịt, thím đã tất tả gánh hàng xuống chợ để kịp bán cho bạn hàng. Có khi thím phải đi đến các thôn vùng núi phía tây như Trầm Sơn, Khe Mương, hoặc bắt đò qua các thôn Vực Kè, Tân Lương bên kia sông, nơi trồng nhiều thơm, mít.

Đấy là vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, khi đất nước còn yên bình. Người ta có thể đi suốt đêm, trong túi không có bất cứ giấy tờ gì mà không sợ bị bắn nhầm hay xét hỏi. Những năm đó, đêm đêm dưới sông Ô Lâu văng vẳng giọng hò mái đẩy nhịp nhàng khoan thai từ những chuyến đò dọc mang hàng hóa từ Đông Ba đi khắp vùng Thừa Thiên, Quảng Trị, ghé những chợ bên sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu và đến tận sông Thạch Hãn, sông Hiếu… Nhiều người nghe đến thuộc những câu:

“Đập sông Bồ có khúc sâu khúc cạn

Chàng có thương thiếp, cho thiếp chộ hình chộ dạng để bớt nhớ thôi thương  

Kể từ ngày đào lựu cách trở hai phương  

Trông cho thấy mặt kẻo hai đứa hai đường thảm chưa?”

“Gió thổi pho pho đưa đò lên Huế

Trăng non Đoài vội xế Bao Vinh

Gặp nhau đây giữa ngã ba Sình

Có ai vô kết nghĩa chung tình ngàn năm?”….

Thím Lành quen biết rất nhiều giọng hò trên những chuyến đò dọc ấy bởi những chủ đò là bạn hàng của thím.

Mỗi khi xong phiên chợ, nếu hàng bán không hết, thím thường mang đến gởi nhà bác Thảo, một người bà con thúc bá bên chồng của thím. Bác Thảo làm nghề thợ may và mở tiệm ngay trong chợ Mỹ Chánh. Tiệm của bác khá rộng nên sẵn sàng cho thím gởi hàng. Hầu như bác Thảo không bao giờ phải tốn tiền mua chè lá và lâu lâu được thím tặng một trái thơm, trái mít ăn cho vui.

Thím Lành cũng mê hò Huế, nhất là hò giả gạo và hò đối đáp rất vui nhộn, nên mỗi năm đôi ba lượt, khi có đoàn hò Huế về hát ở sân đình làng Mỹ Chánh hoặc Lương Điền, thím gánh hàng xuống chợ ngay đêm hôm đó, ở lại nhà bác Thảo để đi xem cho được.

Một hôm, bác Thảo tìm không thấy một cuộn chỉ đen trong bao treo trên bàn máy may. Đó là trục chỉ còn nguyên, chưa dùng đến, bác phải bắt xe đò vô tận Huế mới mua được. Chỉ được cuốn quanh một cái lõi gỗ mà sau khi dùng hết chỉ, trẻ con thường dùng để làm xe để chơi. Bác lục trí nhớ xem hôm ấy có ai đến nhà mình không và dứt khoát chỉ có một mình thím Lành ghé lại. Bác chắc chắn thím Lành đã lấy cắp cuộn chỉ của mình chứ không ai khác, bởi vì nhà thím nghèo, rất cần chỉ để vá áo quần. Cả nhà thím, mọi người đều mặc áo vá. Cái áo dài thím mặc đi chợ cũng được vá vai.

Bác Thảo tức bực vô cùng, không lẽ lại phải vô Huế chỉ để mua một cuộn chỉ, mà đi lại đâu phải dễ dàng. Kể từ đó, mỗi lần thím Lành đến bác đều lạnh nhạt, không một tiếng chào, không nhận chè lá của thím biếu nữa.

Thím Lành không hiểu tại sao bác Thảo có thái độ khác thường như vậy, sợ rằng hàng hóa của mình làm chật nhà bác, từ đó thím không gởi hàng ở nhà bác và cũng không đến nhà bác nữa.

Thế rồi cuộc chiến càng ngày càng căng thẳng, không ai dám đi lại ngoài đường ban đêm, tiếng hò mái đẩy trên sông vắng dần rồi im bặt luôn. Con đường sắt trở thành giới tuyến. Phía tây thấp thoáng bóng các anh du kích khi đêm về. Ban đêm thím Lành và gia đình phải xuống hầm ngủ để tránh đạn đại bác và đạn súng đại liên từ đồn Mỹ Chánh cứ bắn xả vào làng.

Lâu lâu thím Lành mới xuống chợ, chỉ đi ban ngày và gánh ít hàng. Khi đò dọc không còn đến, khách hàng từ Huế ra mua bằng xe đò, nhưng chỉ được đôi lần rồi vắng luôn bởi đường sá không an toàn. Nhưng khó chịu nhất là khi vừa ra khỏi chợ, hàng hóa của thím bị lục tung, không biết họ kiếm cái gì.

Khi những chiếc máy bay phun cái chất bột màu trắng xuống làng thì mít là thứ cây đầu tiên bắt đầu chết rụi, kế đến là chè, thơm. Sau này thím mới biết rằng đó là thuốc khai quang và người ta nói cây nào có mủ thì chết trước.

Không còn chè, mít và thơm nên thím hết đường sinh kế, gia đình thím định bỏ làng mà đi. Thế nhưng chưa kịp đi thì một quả đại bác đã rơi vào vườn nhà thím và mảnh của nó đã giết thím.

Bác Thảo nghe tin nhưng không về phúng viếng. Có thể bác sợ nhưng không ai bắt bớ gì một người thợ may già như bác, hơn nữa, mấy anh du kích cũng là bà con thân thuộc với bác. Người ta nói nghĩa tử là nghĩa tận, mà bác còn ghét thím lâu vậy sao?

Mấy năm sau, một hôm bác đi ngang nhà hàng xóm khi chị chủ nhà đang ngồi ngoài hiên vá áo quần. Hồi ấy không có điện nên ngồi trong nhà thì không thấy lỗ kim mà xâu chỉ. Tình cờ bác thấy trên bậc thềm một cuộn chỉ đen loại có lõi gỗ y như của cuộn chỉ của bác. Cuộn chỉ còn khá mới, chưa dùng bao nhiêu. Những người không phải thợ may chỉ dùng cuộn chỉ nhỏ bằng ngón tay quấn quanh lõi giấy, hiếm khi người ta dùng loại cuộn chỉ to có lõi gỗ mà ở chợ Mỹ Chánh không ai bán. Bác hỏi chị hàng xóm mua cuộn chỉ này ở đâu, chị trả lời:

- Thằng con tôi đi chơi thấy đâu đó rồi mang về chớ tôi chẳng mua cuộn chỉ to này làm chi cho tốn nhiều tiền.

- Trước đây tôi có mất một cuộn chỉ như thế này và tôi đã nghi ngờ một người bà con lấy cắp. Chị làm ơn hỏi cháu lấy cuộn chỉ này ở đâu, nếu cháu lấy của tôi thì chị cho tôi biết, tôi sẽ bỏ qua không nói với bất cứ ai và chị cứ để đó mà dùng. Tôi biết các cháu rất thích lõi chỉ này để làm xe chơi chớ chẳng tham lam gì. Nếu cháu lấy thì tôi phải đến xin lỗi người bà con của tôi vì bấy lâu nay tôi nghi oan cho họ.

Tối hôm đó, chị sang nhà bác Thảo, một tay chị cầm cuộn chỉ, một tay cầm tay thằng con, biểu nó xin lỗi và trả lại cuộn chỉ cho bác.

Bác cầm cuộn chỉ mà rưng rưng nước mắt vì bác không bao giờ có thể gặp lại thím Lành để xin lỗi nữa, họa chăng là ở suối vàng mà thôi. 

N.K.P.

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2020

NGƯỜI QUÉT THỜI GIAN - Ursula Wills-Jones - Nguyễn Khắc Phước dịch



Nhà văn Ursula Wills-Jones.

Ảnh của Louise Gethin,




NGƯỜI QUÉT THỜI GIAN
Truyện ngắn của Ursula Wills-Jones 


Có thể bạn chưa từng quen biết những người quét thời gian. Người quét thời gian là người quét tất cả thời gian bị mất và lảng phí. Bạn không thể thấy họ được đâu cho dù bạn đang ở nhà ga xe lửa và nghĩ là mình thoáng thấy ai đó, có lẽ là người quét thời gian, đang lau chùi gần cái ghế dài nơi bạn đang ngồi. Giả sử bạn thấy họ, có thể đó là một người gầy ốm, xanh xao, dáng vẻ chăm chỉ, tay cầm chổi và cây lau nhà. Đàn ông thì mặc đồ lao động áo liền quần, phụ nữ thì mặc váy lỗi thời bằng vải tuýt thô và quấn khăn trên đầu.

Người quét thời gian có mặt bất cứ nơi đâu mà thời gian đang bị đánh mất hoặc lảng phí. Bao giờ cũng có vài người ở ga xe lửa, ít nhất cũng có một người ở phòng phẩu thuật của bác sĩ. Người chờ đợi quá lâu để cầu hôn đến nỗi tóc bạn gái mình đã bạc có thể có người quét thời gian riêng cho mình luôn ở bên cạnh. Người phụ nữ đã ba mươi lăm năm làm việc phát ngán trong một đại lý bất động sản, ước mơ mở một cửa hàng bán hoa, khiến cho người quét thời gian ở bên hàng xóm thở dài, và kiếm một cái xẻng hốt rác to hơn.

Bạn không nên thương hại những người quét thời gian, cho dù họ làm công việc tầm thường: họ không bao giờ đau ốm, đừng lo rằng họ chọn sai nghề, và có điều kiện làm việc tuyệt hảo, mặc dù không ai biết họ làm gì để giải trí. Họ thích những ngày ngân hàng nghỉ việc, vì lúc đó hình như có nhiều thời gian hơn ngày thường. Vào dịp Lễ Giáng Sinh và năm mới, người quét thời gian có một tuần nghỉ ngơi. Khi trở lại làm việc vào đầu tháng Giêng, họ phải xử lý một đống thời gian to tướng đã đánh mất, lảng phí, đó là lý do tại sao tháng Giêng dài hơn những tháng khác.

Người quét thời gian lâu nay bao giờ cũng hiện diện, dù cuộc sống hiện đại đã tạo nên thời gian bị lảng phí ở những nơi đông người lớn đến nỗi trong đó có vài nơi mà người quét thời gian bắt buộc phải công nghiệp hóa hoạt động của họ, mua một số xe nén chuyên dụng tương tự như xe của công nhân vệ sinh. Họ dùng xe này ở những nơi cần phải thu gom nhiều nhất, ở nhà tù hay ở khu mua sắm, ở hai nơi đó, thời gian bị lảng phí giống như thủy triều có thể dìm ngập ngay cả những người lành nghề tận tụy nhất.

Giả sử bạn hỏi một người quét thời gian, họ sẽ cho bạn biết một điều đáng ngạc nhiên: thời gian vui chơi giải trí không phải là thời gian lảng phí. Đang lau chùi trong một văn phòng lớn ngập ngụa buồn tẻ đến choáng váng, người quét thời gian đi thẳng qua người phụ nữ đang đọc tờ quảng cáo ngày nghỉ dưới bàn, mải mê nghiền ngẫm hình ảnh những bãi biển nhiệt đới. Họ sẽ bỏ qua bàn tiếp theo, nơi người đàn ông đang thích thú tự hỏi bà mẹ vợ mặc đồ sao mà trông như là khỏa thân, và dừng lại ở bàn của người thanh niên đang đếm từng phút và chán ngán từng giờ.

Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết thời gian bị lảng phí sẽ ra sao khi nó được lau chùi sạch sẽ. Đừng bao giờ sợ, người quét thời gian là người tái chế nhiệt tình. Thời gian lảng phí được thu gom, chất vào nhữg côngtenơ to tướng, chuyển đến cảng Liverpool, chất lên tàu thủy, chở sang Ấn Độ. Ở đó, trong một khu công nghiệp đầy bụi bặm, nó được làm sạch, phân loại và xếp hạng. Thứ thời gian bị nhiểm độc nhiều nhất – dư lượng của những cuộc đàm phán hòa bình thất bại, bỏ tù người vô tội, những cuộc hôn nhân độc địa, được gạn ra và bỏ vào thùng để chôn ở một căn cứ quân sự không còn sử dụng. Ở đó, phải mất hai hoặc ba thế kỷ để nó phân hủy, và trở thành vô hại.

Thứ thời gian còn lại – sinh ra bởi những cuộc hội họp buồn chán, những cuộc hẹn bị lỡ, những chuyến xe buýt trễ, những buổi tối vô vị ở rạp hát vì phải xem một vở kịch tồi - được làm sạch, chất lên tàu thủy và chở đến khu chế xuất công nghiệp Quảng Châu. Ở đây, nó được nén chặt, lưu kho, và chờ tái phân phối. Khoảng chừng hai mươi phần trăm được đưa thẳng đến các nhà máy ở khu chế xuất, nơi có tỷ lệ năng xuất cao nhất thế giới. Một phần tư được chính phủ Trung Quốc mua bằng đô-la tiền mặt. Mười phần trăm của phần cô đặc nhất được bán cho phòng thí nghiệm vật lý học nghiên cứu các hiện tượng, phản ứng ở nhiệt độ thấp ở California. Khoảng chừng hai mươi phần trăm được bán riêng cho những khách hàng tư nhân giàu có, những lão già giàu nhất vừa cưới được những cô vợ trẻ đẹp.

Tuy nhiên, những người quét thời gian không làm việc đó vỉ lợi nhuận. Tiền kiếm được từ những giao dịch này trả cho những họat động của họ bao gồm máy hút, bao bì, áo quần lao động và việc chuyên chở. Phần còn lại được phân phối cho những mục đích tốt. Không ai nhận thêm thời gian phải điền vào đơn xin hay yêu cầu một khoản trợ cấp. Tất cả đều không biết họ đang được trợ giúp. Một trong những người hưởng lợi là một nhà khoa học tiều tụy và mệt mỏi trong một phòng thí nghiệm công cọng tồi tàn ở ngoại ô Novosibirsk, người sẽ tìm ra thuốc chủng ngừa bệnh sốt rét. Một người khác là cô gái điếm trong khu ổ chuột ở Nairobi, phải nuôi dưỡng mười bảy đứa trẻ, và mặc dù hai mươi năm trong nghề vẫn chưa bao giờ đau ốm. Một phần ba dành cho anh tài xế tắc-xi người Ấn-Độ sống trong một căn hộ chật hẹp ở Toronto, vừa kiếm tiền để gởi về nhà nuôi bà vợ đau ốm và các con, vừa viết một cuốn sách mà về sau được công nhận là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của thế kỷ.

Không phải tất cả những ai nhận được sự hào phóng của người quét thời gian đều là con người. Cách Timbuktu chừng bốn mươi dặm, một nhà thờ Hồi-giáo thời trung-cổ, bị cát chôn vùi, được chuyển giao khoảng mười năm một lần. Một nơi nào đó dưới đáy biển Aegean, một chiến thuyền của người Troia được bảo quản thần kỳ trong bùn. Tương tự như vậy, những người quét thời gian cũng tặng một ít thời gian cho một ngôi đền ở Mexico, và bảo quản một kho báu của kẻ cướp từ Thời-kỳ-đen-tối trong một đầm lầy ở Galway.

Một khoảng thời gian từ thiện được giữ lại cho các tình huống khẩn cấp, cả nhỏ và lớn. Nó được thả xuống bằng dù trong những lúc tuyệt vọng, và đã tạo điều kiện cho những thỏa thuận hòa bình, thay đổi cuộc chiến, và cho phép nhiều người cha kịp đến phòng sinh.

Những người quét thời gian, đúng như bản chất của họ, thích gọn gàng và trật tự. Họ muốn loài người phải suy nghĩ về việc lảng phí thứ quý giá này, nhưng không hy vọng điều đó sẽ sớm xảy ra.

Chẳng có bài học đạo đức nào trong truyện này. Chỉ là nếu bạn định vứt thời gian của bạn, thì xin nhớ rằng có người phải nhặt lại.

***

Nguyên tác: The Time Sweepers của Ursula Wills-Jones đăng trên trang web Eastoftheweb.com.
Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

***
Ghi chú của người dịch:
.Novosibirsk: một thành phố ở Nga.
.Toronto: thành phố lớn nhất của Canada.
.Timbuktu: một thành phố ở Mali.
.Biển Aegean: thuộc Địa Trung Hải.
.Troia (còn có tên là Troy): một thành phố thời cổ Hy Lạp, được nhắc đến trong truyện Iliad, bộ thơ anh hùng ca cổ Hy Lạp được coi là của Homer.
.Thời–kỳ-đen-tối: thời kỳ suy thoái sau sự suy tàn của đế chế La Mã.
.Galway: một thành phố ở Cộng hòa Ireland.










Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020

Có gì vui?




Chiều buồn không mà âm u thế này?
Mưa buồn không sao mưa cứ bay?
Ai buồn không mà im tin nhắn?
Rượu buồn không mà sao chẳng cay?

Trăng chưa vui mà trăng đã khuyết!
Ngày chưa vui mà ngày đã sang!
Tình chưa vui mà  tình đã tuyệt!
Đời chưa vui mà đời đã tàn!

Đang bữa ăn mắc chi thở dài?
Giữa đêm khuya đi quanh tìm ai?
Chốn đông người sao ngồi im như  gỗ?
Trời trống không sao cứ ngó hoài?

Sông cạn sâu mà dò làm chi?
Người đã xa thôi nhớ làm gì?
Nước cứ trôi cầu sao ngăn được!
Công đâu ngồi dõi bóng chim di!

NKP

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019

CHÚA Ở ĐÂU? - Thơ NGUYỄN KHẮC PHƯỚC



Chúa hiện diện trong từng cánh hoa
Chúa lượn quanh theo con bướm trước nhà
Chúa là nắng hồng bình minh rực rỡ
Là ngọn gió chiều mát rượi làn da

Chúa trong vòng tay anh mỹ miều
Chúa rộn ràng nhịp trái tim yêu
Chúa ở đâu khi đạn bom chinh chiến?
Chúa gieo gì bao bão xoáy lửa thiêu?

Chúa cho ta cõi vô thường làm nôi
Chúa dạy ta luật nghiệp chướng luân hồi
Chúa chỉ đường để ta tự đến
Cõi vĩnh hằng ngay trong trái tim thôi

Chúa đã cho ta tất cả, đủ rồi
Đừng cầu xin chúa nữa bạn ơi
Hãy trở về cõi tâm tĩnh lặng
Để thấy trong ta đã có chúa rồi.

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

NGƯỜI ĐÀN BÀ TUỔI DẦN - Truyện ngắn Nguyễn Khắc Phước





Nguyễn Khắc Phước
NGƯỜI ĐÀN BÀ TUỔI DẦN
Truyện ngắn

Tôi tên là Lê Thị Đảnh. Lúc đầu cha tôi làm khai sinh đặt tên Dần vì tôi tuổi Dần, nhưng mạ tôi không chịu, sợ sau khó lấy chồng, xin hộ tịch đổi lại tên Đảnh. Có lẽ Dần dễ sửa thành Đảnh, chớ lúc mới sinh, tôi có đỏng đảnh gì đâu. Thế nhưng tôi thích tên Dần hơn vì bọn con trai trong làng thường giễu tôi là “đỏng đảnh như mụ Cảnh n.l.”, bị tôi rượt chạy có cờ nhưng rồi chúng nó vẫn cứ nói câu bậy bạ đó.
Quê tôi miền Trung, có dòng sông nước bốn mùa trong vắt. Hồi tôi còn bé, hai bờ chưa bị xói lở như bây giờ. Mỗi xóm chọn một bãi tắm gần nhà. Chiều đến, nhất là vào mùa hè, dàn ông, đàn bà, già trẻ lớn bé đổ xuống bến tắm giặt. Mẩy ông lớn tuổi thoải mái cỡi truồng, hai tay bụm chỗ kín, tà tà lội xuống nước, cố tình lội ngang đám đàn bà và bắt chuyện: “Chiều ni nóng quá, mấy o hí?”
Mấy thằng cỡ 14, 15 bằng tuổi tôi lúc ấy chưa bao giờ mặc quần lúc tắm. Sáu Dư là đứa nghịch nhất bọn, thường bơi ngữa, mình chìm dưới nước, chỉ để lộ con chim trên mặt nước, tự gọi là tiềm thủy đỉnh. Đôi khi nó giả bộ bơi lộn sang đám con gái làm chúng tôi phải chạy tứ tán.  Có lần tôi vung tay qua lại nghịch nước, đụng phải vật gì đó, quay lại thấy Sáu Dư bụm chim chạy lên bờ, kêu đau quá đau quá rồi nằm lăn xuống cát. Tôi lên bờ, dựt tay hắn ra xem có sao không, hắn liền vùng dậy, vừa chạy vừa kêu: “Con Đảnh rờ chim tau, con Đảnh rờ chim tau, tụi bây ơi.” Đó là lần đầu tiên tôi dụng phải chim của Sáu Dư.
Sáu Dư cũng là thằng chuyên chơi trò tuột quần dây thun. Mỗi khi có nhóm bạn, đặc biệt khi có trai lẫn gái, lợi dụng lúc họ đang nói chuyện say sưa, hắn lén đến sau lưng một người, hai tay nắm hai bên hông quần, tuột xuống thật mạnh. Người bị tuột quần không bắt nó được vì hai tay phải nắm quần kéo lên. Sáu Dư thường bị rượt đuổi nhưng rồi hắn quay lại, nhe răng cười trừ.
Hết chiến tranh, tôi rời trại tạm cư về quê, lúc ấy đã là cô gái trên hai mươi. Tất cả ruộng tư đều sung vào hợp tác và tôi thành xã viên, bắt đầu học nhổ mạ, cấy lúa, gánh phân, làm cỏ. Sáng tinh mơ nghe kiểng là dậy, ăn vội mấy củ khoai hoặc sắn nấu sẵn từ đầu hôm, gói thêm mấy củ nữa dành cho bữa trưa, rồi tất tả ra đồng, tối mờ tối mịt mới rời ruộng, về đến nhà thì đã đỏ đèn. Bữa tối mới có chén cơm độn khoai sắn, chỉ vừa lưng bụng, nửa đêm thức giấc, đói thắt tha thắt thẻo, không ngủ được.
Trai gái trong làng cỡ tuổi tôi lần lượt lập gia đình, riêng tôi không ai ngó ngàng đến vì họ sợ tuổi Dần. Tôi ghét lão nào ngày xưa bắt con người cầm tinh con vật. Con người và con vật khác loài, mắc chi con người mang tuổi vật, vậy con vật mang tuổi gì? Trong khi đó, người và vật, theo nhà Phật, đều là chúng sinh như nhau. Cái thời con người và con vật sống bên nhau ấy đã xa lắc rồi. Thời đó, người còn ăn lông ở lỗ, cọp nhởn nhơ đầy rừng, sẵn sàng vồ người giết thịt, còn bây giờ, người ta giết cọp sạch trơn, chẳng thấy một con. Cọp thì không sợ, lại sợ người mang tuổi cọp. Vớ vẩn!
Sáu Dư lấy vợ, có hai con, trở thành đội trưởng đội sản xuất số 5, thường gọi là đội 5. Tên thôn, tên làng gần như bỏ hẵn, chỉ dùng tên đội. Tôi là đội viên của anh ta.
Bọn đàn ông ban ngày cày bừa, ban đêm tranh thủ cầm đèn đi soi, gặp con gì bắt con nấy, kể cả rắn độc. Riết rồi chẳng nghe thấy ếch, nhái, ểnh ương gì kêu hết trọi. Sau tối họp đội, họ thường đi soi tập thể, rồi tập trung tại một nhà ai đó làm mồi nhậu với rượu sắn, nói chuyện ba xàm tới quá khuya mới về. Còn bình thường, họ mang về nhà cho vợ con nấu cháo để được thêm chút đạm.
Tôi cấy chậm và thường ít điểm hơn người ta. Trong một buổi họp, đội cần một chân bảo vệ kho lúa ban đêm, hỏi ai cũng lắc đầu, tôi liền đưa tay xin nhận. Lúc đầu người ta nhìn tôi châm chọc nhưng cuối cùng phải nhận tôi vì trong đám thanh niên lúc ấy chỉ có tôi còn độc thân, những người còn lại đều đã có gia đình, ban đêm họ ôm nhau ngủ ấm, mắc chi phải ôm bao lúa cho lạnh.
Ban ngày tôi đi làm đồng, tối về ăn cơm xong, ôm mền lên kho lúa ngủ. Tôi dậy lúc sớm bửng khi dân làng còn ngủ, lén dấu mấy lon lúa lép trong mền, đem về cho vịt ăn.
Một sáng nọ, khi tôi vừa ra khỏi sân kho thì Sáu Dư xuất hiện, chỉ vào cái mền, ra lệnh: “Cái chi trong đó, bỏ ra coi.” Tôi lẹ tay hất cái mền, lúa lép bay tung tóe, và ngay lập tức, tôi cỡi quần nằm ngay xuống bãi cỏ, la lớn: “Dáu Dư hiếp tui, Sáu Dư hiếp tui, bà con ơi!” La lớn nhưng kho lúa cách nhà gần nhất cũng gần nửa cây số nên không ai nghe. Sáu Dư bỏ chạy mất dạng. Tôi bình tĩnh trở lại kho lúa, xúc lại mấy lon lúa lép, nếu không thì lấy gì cho vịt ăn!
Buổi họp đội sau đó chẳng thấy Sáu Dư nói gì về chuyện tôi ăn cắp lúa lép.
Sau buổi họp mấy đêm, lúc ấy đã khuya, tôi nghe có tiếng chân người ngoài sân, liền tằng hắng, cho biết mình đang thức. Có tiếng nói khẽ, đúng là giọng Sáu Dư. “Này này, lúa lép bữa nay có nhiều hạt chắc lắm nghe, sàng sảy ra mà dùng, đừng cho vịt ăn hết, uổng lắm.”
Tôi như mở cờ trong bụng, làm thinh, giả bộ không nghe, đoán biết hắn đã thấy cái gì hôm đó rồi, mà đã thấy thì không thể không thèm. Hắn cũng tuổi Dần như tôi, mà cọp thì thường trở lại bắt con mồi vồ trượt.
Chừng một tuần sau, cũng vào lúc nửa đêm, tôi nghe tiếng Sáu Dư thì thào: “Đảnh ơi!… Đảnh ơi!...” Tôi gắt giọng: “Ai đêm hôm khuya khoắt định đến ăn trộm lúa phải không? Đi đi, không tui đánh kiểng báo động xã viên tới bắt liền đó.” Sáu Dư nói: “Thôi mà, thôi mà! Sáu Dư đây. Tui báo công Đảnh làm tốt nên họ thưởng cho Đảnh tấm vải đây, mở cửa ra tui đưa cho.” “Có thiệt không?” “Thiệt chớ răng không.”
Tôi hé cửa và Sáu Dư lẻn vào. Trong bóng tối, hắn đưa cho tôi một gói giấy, tôi sờ và ngửi thì đúng là vải mới thật. Tôi nói: “Răng ban ngày ban mặt không đưa, mắc chi đêm hôm đi cho cực?” Sáu Dư nói: “Nói thiệt hôm trước chộ rồi, về khó ngủ quá, cứ tơ tưởng miết. Bữa ni cho chộ chút nữa được không?”
Đúng như tôi đoán, con cọp này trở lại tìm mồi lần nữa. Kiểu này thì không thể từ chối hắn được vì hắn đã bỏ qua tội tôi ăn cắp lúa lép, lại còn cho quà. Tôi ỡm ờ: “Tối thui thế ni mà chộ chi, để lúc khác được không?” Hắn nói: “Miễn răng tui chộ được thôi.”
Tôi để cho Sáu dư “chộ” thoải mái đến độ tôi không cịu được nữa, biểu hắn ngồi lên bao lúa giống trên đầu giường và tôi chồm lên. (Bởi cái giường tre tôi nằm quá ọp ẹp, không thể chịu đựng sức nặng của hai người.)
Mỗi tuần Sáu Dư đến với tôi hai, ba lần. Để cho an toàn nên anh ta ngủ với vợ rồi mới đi, nói ra đồng kiểm tra xem nước đã được trổ vào ruộng chưa hoặc đi đếm xem bao nhiêu bó mạ đã được nhổ tối nay. Vậy tôi chỉ hưởng chút xái tăng hai nên chẳng đâu vào đâu.
Chuyện vụng trộm ấy chẳng nhớ kéo dài được mấy tháng thì tai họa xảy đến. Một đêm hai đứa tôi mệt quá, ngủ đến sáng trợt, giật mình vùng dậy khi nghe tiếng đám đông bên ngoài sân kho. Thì ra vợ Sáu dư biết được, dẫn người đến vây kho lúa.
Sau vụ đó, Sáu Dư bị mất chức đội trưởng, bẽ mặt quá phải bỏ nhà ra đi. Còn tôi mất chân thủ kho, mất cả tư cách xã viên. May cho tôi là đàn vịt nhờ ăn lúa chắc đã phổng phao, bắt đầu đẻ trứng. Tiền bán trứng tôi dùng để gầy thêm một đàn vịt nữa. Chẳng bao lâu tôi trở thành một phụ nữ chăn vịt thả đồng chuyên nghiệp. Hằng ngày tôi lùa vịt ra đồng kiếm ăn, dẫn tới ao cho chúng tắm. Mùa hè tôi cắm trại luôn ngoài đồng, một phần để tránh mụ vợ Sáu Dư lâu lâu ngứa mồm lại đến nhà tôi chửi rủa.
Đàn bà mà dám ngủ một mình giữa đồng không mông quạnh bởi tôi biết đàn ông xứ này ớn con tuổi Dần này rồi, sợ đụng vào thì thân bại danh liệt, phải tha phương cầu thực như Sáu Dư, làm sao chịu nổi.
Những lần đi lại với Sáu Dư thực bụng tôi muốn tự túc một đứa con để sau này già mà cậy, thế nhưng rất tiếc tôi không mang bầu. Sau này tôi nghe chuyện phòng the của cánh phụ nữ mới nghiệm ra rằng một phần Sáu Dư đã trút hết cho vợ trước khi đến với tôi và một phần vì tư thế ngồi kiểu đó thì không có cái gì bơi đến nơi đến chốn.
Năm năm sau khi bỏ làng ra đi, Sáu Dư trở về với thân thể tiều tụy, nước da vàng tái mét. Nghe nói anh ta lên Tây Nguyên làm thuê cho bọn lâm tặc, vác cưa vào rừng trộm gỗ, nhiều lần bị kiểm lâm đuổi chạy. Kiểm lâm thì thoát được nhưng muổi thì chịu. Anh ta bị bệnh sốt rét, bị bọn lâm tặc đuổi việc, đành phải về quê. Tôi cảm thấy mình có lỗi, muốn tìm cách giúp đỡ nhưng không biết cách nào.
Sáu Dư về với vợ thấy êm ru, không hục hặc gì, lại còn được vợ bồi dưỡng nên sức khỏe ngày càng khá hơn. Ai cũng khen vợ Sáu Dư coi vậy mà chung thủy, rộng lượng, đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại.
Rồi vợ Sáu Dư có bầu. Hôm chị ấy sắp ở cữ, ý tá xã đoán khó sinh nên chuyển lên bệnh viện tuyến huyện. Vào buổi chiều, tôi thấy Sáu Dư và một thanh niên khác cùng cáng chị ấy lên đường lộ để đón xe, theo sau là mẹ ruột của chị.
Chừng hai hôm sau, khi tôi đang ngủ trong lều giữa đồng thì có ai đó đập vào mông, giựt mình thức dậy thì tháy Sáu Dư ngồi bên cạnh.
“Ủa, răng không đi theo vợ mà ở nhà rứa?”
“Một người được rồi, nhiều người làm chi cho tốn,” Sáu Dư thở dài.
“Vậy tối nay thoải mái nhé?”
“Thôi thôi, chịu rồi,” Sáu Dư buồn bã lắc đầu.
“Thiệt không? Tui kiểm tra nhe?”
Tôi vật Sáu Dư ra để kiểm tra thì quả thực cái đó còn mềm hơn cả ngón tay thứ sáu không xương của anh.
“Răng lạ rứa?” tôi ngạc nhiên hỏi.
“Thời thanh niên chỉ khoai sắn mà phục vụ một lúc tới hai bà, sau đó vào rừng làm việc như trâu, ăn uống thiếu thốn, bữa đói bữa no, lại còn bị sốt rét, thử hỏi còn sức đâu mà ham,” Sáu Dư lại thở dài.
“Rứa anh mần răng mà chị có bầu?”
“Tối nào cũng ôm ấp nhưng không mần chi được nên nó phải đi kiếm người khác. Ông ăn chả, bà ăn nem, thôi đành im cho rồi. Tại mình cả thôi, bụng làm dạ chịu. Cũng không tệ lắm, it bữa nữa, tôi sẽ được phân thêm ruộng. Con ai đem bỏ chùa này…,” Sáu Dư cười chua chát.
“Chấp nhận như rứa là tốt. Tui có ít tiền đây, mai anh mang lên trả viện phí và thăm vợ con.”
“Mắc chi mà trả. Thằng cha nó sẽ trả viện phí,” Sáu Dư vùng vằng.
“Nói rứa mà nghe được à! Anh vừa mới mừng sắp được phân thêm ruộng răng chừ nói ngược rứa? Không lấy tiền này để trả viện phí thì ngày mai ở nhà giữ vịt, tui sẽ lên thăm chị ấy,” tôi làm bộ quả quyết.
NKP




Thứ Ba, 17 tháng 12, 2019

CÓ QUA CÓ LẠI... - Truyện ngắn hài hước của Jon Langford - Nguyễn Khắc Phước dịch.




     "Chào ông, ông mua gì ạ?"
     "Tôi muốn trả lại cái đồng hồ báo thức."
     "Nó hư gì vậy, thưa ông?"
     "Báo thức không hoạt động."
     "Ý ông là sao?"
     "Không có âm thanh."
     "Ông đã đọc hướng dẫn sử dụng để sửa chữa chưa?"
     "Rồi."
     "Và nó vẫn không hoạt động?"
     "Không."
     "Được rồi, ông có biên nhận không?"
     "Không, tôi chẳng thấy biên nhận nào cả."
     "Vậy thì cháu không thể hoàn lại tiền cho ông được."
     "Ồ không, anh hiểu sai, tôi không muốn hoàn lại tiền, tôi chỉ muốn đổi nó để lấy một cái còn tốt."
     "Được rồi, ông có bao bì gốc không?"
     "Không, tôi đã vứt nó đi rồi."
     "Cháu không thể đổi mà không có bao bì ban đầu."
     "Nó có vỏ bọc bằng plastic, tôi phải mở bằng dao, tôi không hiểu tại sao anh lại cần bao bì?"
     "Chính sách của chúng cháu về việc đổi tất cả sản phẩm là phải được trả lại trong bao bì ban đầu của nó."
     "Đó chỉ là một cái bao nhựa thôi, tại sao tôi lại phải giữ nó?"
     "Trong trường hợp ông cần trả lại vật phẩm."
     "Tôi không nghĩ rằng một cái đồng hồ báo thức sẽ hư sau một vài tuần. Vậy mà anh lại nói rằng anh không thể làm bất cứ điều gì để giúp đỡ?"
     "Cháu muốn giúp ông nhưng cháu cần một số bằng chứng ông đã mua ở đây."
     "Tôi là bằng chứng, bây giờ tôi nói với anh rằng tôi đã mua nó ở đây, thực ra, tôi nhớ không lầm thì chính anh đã bán cái đồng hồ này cho tôi."
     "Ông đã đăng ký số bảo hành sản phẩm trực tuyến?"
    "Không."
     "Ah, đó là một vấn đề, ông trả tiền bằng cách nào? Tiền mặt hoặc thẻ?"
     "Tiền mặt."
     "Nếu ông đã thanh toán bằng thẻ, ông có thể nhận được một thông báo từ ngân hàng của ông chứng minh rằng ông đã mua hàng ở đây và vào ngày nào."
     "À, tôi đã trả tiền mặt."
     "Vấn đề là các cửa hàng khác cũng bán thương hiệu này. Ông có thể mua nó ở bất cứ đâu."
     "Tôi có thể, nhưng tôi không, tôi đã mua nó ở đây và nó không hoạt động và anh nợ tôi một đồng hồ báo thức."
     "Ông mua nó khi nào?"
     "Vài tuần trước."
     "Chính sách giao dịch của chúng cháu là 21 ngày và ông có thể đã hết hạn bảo hành."
     "Tôi đã mua nó vào tháng trước và tôi không nhớ ngày chính xác".
     "Chúng cháu đã bán mẫu đồng hồ này vài năm nay rồi."
     "Anh nói tôi nói dối à?"
     "Không, thưa ông, cháu chỉ đơn giản nói rằng ông có thể mua nó 22 ngày trước và trong trường hợp đó, ngay cả với biên nhận và bao bì gốc, cháu cũng sẽ không thể làm bất cứ điều gì để giúp đỡ."
     "Không làm gì được?"
     "Không."
     "Vậy tôi phải dùng cái đồng hồ báo thức bị lỗi này mãi à?"
     "Ồ, ông có thể gửi nó cho nhà sản xuất bằng một bức thư giải thích vấn đề."
     "Nó được sản xuất ở Trung Quốc, và chẳng đáng để chịu phức tạp như vậy."
     "Vậy thì cháu sẽ đề nghị ông mang nó đến một cửa hàng sửa chữa."
     "Mấy thứ này mà đem sửa chữa thì coi bộ tốn nhiều tiền hơn giá mua nó."
     "Cháu biết."
     "Tôi có thể nói chuyện với người quản lý không?"
     "Người quản lý nghỉ hôm nay."
     "Vậy tôi có thể nói chuyện với bất cứ ai phụ trách?"
     "Dạ, cháu đây."
     "Ngày mai người quản lý có đến không?”
     "Không."
     "Vậy ngày nào anh ta đến?"
     "Đó là một cô ạ."
     "Được rồi, khi nào cô ấy đến?"
     "Thứ hai."
     "Tôi sẽ trở lại vào thứ hai."
     “Dạ, được ạ. Hôm nay, ông có cần gì khác nữa không ạ?”
     "Có lẽ không."
     "Được rồi, ông có muốn mở thẻ cửa hàng không? Miễn phí hoàn toàn và ông nhận được 5% mỗi lần mua hàng".
     "Không, cám ơn."
     "Nếu ông mở ngày hôm nay, ông sẽ có được một món quà miễn phí."
     "Món quà miễn phí là gì?"
     "Đồng hồ báo thức."

Jon Langford
Nguyễn Khắc Phước (dịch)
Nguyên tác: Tên truyện: “The Exchange”, đăng trên eastoftheweb.com.